- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu D phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HS-ST Ngày: 15 - 11 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Thủy Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Xuân Thanh
Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh
- Thư ký phiên tòa:
Bà Lê Thị Thu - Là Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 71/2023/HSST ngày 02/10/2023 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 74 /2023/QĐXXST - HS ngày 03/11/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Hữu D - sinh ngày 03/5/1991.
(Tên gọi khác: Nguyễn Văn D) Nơi cƣ trú: xã T, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Hữu C và bà Trần Thị Â; vợ con: Chƣa có; tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 15/11/2021 bị UBND xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn; chấp hành xong ngày 15/02/2022. Nhân thân:
- Năm 2013 bị Công an xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau.
- Ngày 02/7/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành hình phạt xong ngày 26/9/2018, chấp hành nộp án phí ngày 20/3/2015.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/5/2023 đến ngày 30/5/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn H - sinh năm 1993. (Vắng mặt) Địa chỉ: xã T, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa.
- Anh Nguyễn Phi S - sinh năm 1993. (Vắng mặt) Địa chỉ: xã N, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ Su:
Ngày 24/5/2023, Công an xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng mời Nguyễn Văn H (trú tại xã T) - là đối tƣợng nghiện ma túy thuộc diện theo dõi của Công an xã lên làm việc xác định tình trạng nghiện, kết quả dƣơng tính với ma túy loại Heroin. Quá trình lấy lời khai, Nguyễn Văn H khai nhận bản thân cùng Nguyễn Phi S (trú tại xã N, huyện Quảng Xƣơng) nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Hữu D. Công an xã Quảng Thạch báo cáo Công an huyện Quảng Xƣơng, triệu tập Nguyễn Phi S làm việc, S cũng thừa nhận việc mua ma túy của D. Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xƣơng tiến hành khám xét khẩn cấp ngƣời và nơi ở của Nguyễn Hữu D. Khi thấy lực lƣợng Công an đến nhà, D đã thả từ tay phải xuống nền nhà, gần chỗ D đứng 01 gói giấy trắng, kích thƣớc 1x1cm, bên trong chứa chất rắn dạng cục màu trắng (nghi là heroine), CQĐT đã thu giữ, đồng thời quá trình khám xét, phát hiện thu giữ: 01 túi nilon màu trắng trong suốt, miệng viền đỏ, kích thƣớc khoảng 8x4cm, bên trong chứa chất rắn màu trắng dạng cục (nghi là heroine), 01 mảnh giấy trắng, kích thƣớc khoảng 11x7cm, đã bị xé một phần ở góc, 01 con dao lam đã qua sử dụng, kích thƣớc khoảng 4x2cm; 01 điện thoại Iphon 7, màu vàng nhạt, lắp sim số 0342134896, đã qua sử dụng. Các vật chứng thu giữ đã đƣợc niêm phong theo quy định.
Cơ quan điều tra đã trƣng cầu giám định đối với tang vật thu giữ. Tại bản kết luận giám định số 2012/KL - KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất rắn màu trắng dạng cục của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lƣợng 0,065gam (Không phẩy không sáu lăm gam) loại Heroine. Chất rắn màu trắng dạng cục của phong bì niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lƣợng 0,316gam (Không phẩy ba một sáu gam) loại Heroine.
Quá trình điều tra, xác định nhƣ sau: Khoảng tháng 4/2023, D đƣợc một ngƣời đàn ông tên T ở xã Tiên Trang, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa cho một gói ma túy (Heroine) để sử dụng, D lấy gói ma túy về cất giấu nhƣng không sử dụng mà để chia nhỏ ra bán cho ngƣời nghiện kiếm lời, D đã bán ma túy cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Phi S 04 lần, cụ thể nhƣ sau:
- Lần thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 22/5/2023, Nguyễn Văn H và Nguyễn Phi S rủ nhau đi mua ma túy của Nguyễn Hữu D để sử dụng. H sử dụng số điện thoại 0878169222 gọi điện vào số điện thoại 0342134896 của D hỏi mua 01 gói Heroine giá 500.000đ, D đồng ý và hẹn H đến ngã ba Nam Dân thuộc xã Quảng Chính, huyện Quảng Xƣơng. Su đó, D mang một gói Heroine (bọc bằng giấy trắng) và điều khiển xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 36L4 - 0064 (xe của bố D) đến điểm hẹn. Đến nơi, D gặp S và H đang ngồi trên một chiếc xe mô tô đợi, S đề nghị trả tiền mua ma túy bằng hình thức chuyển khoản ngân hàng, D đồng ý nên đƣa cho H một gói Heroine, S sử dụng tài khoản MB Bank số 86865689999 của S chuyển khoản vào số tài khoản MB Bank số 0342134896 của D số tiền 500.000đ. Nhận đƣợc tiền, D về nhà còn S và H đi đến nghĩa trang xã Quảng Nham, huyện Quảng Xƣơng cùng nhau sử dụng hết số ma túy vừa mua trên.
- Lần thứ hai: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 23/5/2023, H và S cùng rủ nhau đi mua ma túy của D để sử dụng. H mƣợn điện thoại của S lắp sim số 0814193394 gọi đến số điện thoại 0342134896 của D hỏi mua 01 gói Heroine giá 500.000đ, D đồng ý và hẹn gặp nhau tại ngã ba Nam Dân để giao dịch. Su đó, D mang một gói Heroine (bọc bằng giấy trắng) và điều khiển xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 36L4 - 0064 đến điểm hẹn. Gặp nhau, S đƣa cho D số tiền 500.000đ (gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ). D cầm tiền và đƣa cho H 01 gói heroine rồi đi về nhà còn H và S đi đến nghĩa trang xã Quảng Nham, huyện Quảng Xƣơng cùng nhau sử dụng hết số ma túy trên.
- Lần thứ ba: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 23/5/2023, S sử dụng số điện thoại 0814193394 gọi điện đến số điện thoại 0342134896 của D hỏi mua 01 gói Heroine giá 500.000đ, D đồng ý và hẹn S đến ngã ba Nam Dân để giao dịch. Su đó, D mang một gói Heroine (bọc bằng giấy trắng) và điều khiển xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 36L4 - 0064 đến ngã ba Nam Dân và gặp S. D đƣa cho S một gói Heroine, S sử dụng số tài khoản MB Bank 86865689999 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản MB Bank số 0342134896 của D. Nhận đƣợc tiền, D về nhà còn S đi đến nghĩa trang xã Quảng Nham, huyện Quảng Xƣơng sử dụng hết số ma túy trên.
- Lần thứ tƣ: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 24/5/2023, S sử dụng số điện thoại 0814193394 gọi điện đến số điện thoại 0342134896 của D và hỏi mua 01 gói Heroine giá 500.000đ, D đồng ý và hẹn gặp tại bờ đê sông Lý thuộc xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng. Sau đó, D mang một gói Heroine (bọc bằng giấy trắng) và điều khiển xe mô tô Honda Dream biển kiểm soát 36L4 - 0064 đến địa điểm đã hẹn, đợi một lúc thì S mới một mình đi xe mô tô đến. Gặp nhau, D đƣa cho S một gói Heroine, S sử dụng số tài khoản MB Bank 86865689999 chuyển khoản số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản MB Bank số 0342134896 của D. Nhận đƣợc tiền, D về nhà còn S đi đến nghĩa trang xã Quảng Nham, huyện Quảng Xƣơng sử dụng hết số ma túy trên.
* Về thu giữ và xử lý vật chứng:
- Đối với 0,323gam Heroine (H lại Su giám định) là vật cấm lƣu hành; 01 mảnh giấy trắng, 01 dao lam đã qua sử dụng là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy;
- Đối với 01 điện thoại di động Iphone 7, màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, lắp sim số 0342134896 của D sử dụng làm phƣơng tiện liên lạc bán ma túy nên cần tịch thu phát mãi sung vào ngân sách Nhà nƣớc;
- Đối với xe mô tô Honda Dream BKS 36L4 - 0064, D sử dụng làm phƣơng tiện đi bán ma túy, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên thuộc sở hữu của ông Nguyễn Hữu C (trú tại xã T, huyện Quảng Xƣơng - là bố đẻ của D), việc D sử dụng xe mô tô làm phƣơng tiện đi bán ma túy, ông C không biết và không tham gia cùng nên không thu giữ, xử lý chiếc xe trên.
- Đối với số tiền 2.000.000đ (04 lần bán ma túy) mà Nguyễn Hữu D đã thu của những ngƣời mua ma túy, là tiền do phạm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc.
* Tình tiết khác của vụ án:
- Đối với ngƣời đàn ông tên T cho D ma túy, quá trình điều tra xác định là Mai Văn T trú tại xã T, huyện Quảng Xƣơng, tuy nhiên T đã chết ngày 27/4/2023 nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Phi S là hai ngƣời nghiện ma túy đã mua ma túy với Nguyễn Hữu D để sử dụng, do không thu giữ đƣợc số lƣợng ma túy mà H và S đã mua nên không có căn cứ xử lý. Tuy nhiên xét nghiệm ma túy đối với H và S đều dƣơng tính với chất ma túy, Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với H và S về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Tại bản cáo trạng số 72/CT - VKSQX ngày 28/9/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo nhƣ cáo trạng đã nêu và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu D từ 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2023. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
* Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu M1, M2 do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đàm Đình Dũng, Nguyễn Trung Đức và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có tổng khối lƣợng ma túy (sau giám định) là 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) loại: Heroine là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy trắng kích thƣớc khoảng (11x 7)cm, đã bị xé một phần ở góc và 01 dao lam đã qua sử dụng, kích thƣớc khoảng (4x2)cm, không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 7, màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI: 359207074151237, lắp sim số 0342134896 của D là công cụ phạm tội; đƣợc đựng trong phong bì ghi chữ “CÔNG AN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG” ký hiệu M3 đƣợc dán kín niêm phong bới các chữ ký ghi rõ họ tên Đàm Đình Dũng, Trƣơng Ngọc Nhất, Hoàng Minh Tuân, Đới Xuân Hùng, Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Hữu Dũng cùng các hình dấu của Công an xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền mà Nguyễn Hữu D bán ma túy 04 lần cho S và H;
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát. Lời sau cùng bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ Su:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Quảng Xƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của ngƣời liên quan cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ vụ án. Xác định: Vào các ngày 22, 23 và 24/5/2023, tại ngã ba Nam Dân thuộc xã Quảng Chính và bờ đê sông Lý thuộc xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng, tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Hữu D có hành vi bán trái phép chất ma túy 04 lần cho Nguyễn Văn H và Nguyễn Phi S, mỗi lần 01 gói Heroine lấy 500.000đ; tổng 04 lần bán ma túy thu số tiền 2.000.000đ. Ngoài ra, Nguyễn Hữu D còn tàng trữ 0,381gam Heroine mục đích để bán kiếm lời.
Nhƣ vậy đủ cơ sở kết luận hành vi nêu trên của bị cáo đủ dấu hiệu cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội danh và khung hình phạt đƣợc quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Xƣơng truy tố bị cáo về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của BLHS là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất của vụ án và nhân thân của bị cáo: Tội phạm về ma túy là rất nguy hiểm. Ma túy gây hại đến sức khỏe, làm suy thoái giống nòi, phá vỡ hạnh phúc gia đình. Ngoài ra ma túy còn là một trong những nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác và gây lan truyền căn bệnh HIV/AIDS. Mặc dù bị cáo biết rõ tác hại của ma túy nhƣng do xem thƣờng pháp luật, bị cáo đã có hành vi mua bán ma túy để kiếm lời. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt các chất ma túy của Nhà nƣớc, gây mất trật tự trị an chung. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt hành chính, từng bị xét xử về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phƣờng thị trấn; không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo. Do đó khi lƣợng hình Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy đƣợc sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo trở thành ngƣời công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu M1, M2 do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đàm Đình Dũng, Nguyễn Trung Đức và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có tổng khối lƣợng ma túy (sau giám định) là 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) loại: Heroine là vật Nhà nƣớc cấm lƣu hành.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy trắng kích thƣớc khoảng (11x 7)cm, đã bị xé một phần ở góc và 01 dao lam đã qua sử dụng, kích thƣớc khoảng (4x2)cm không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 7, màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI: 359207074151237, lắp sim số 0342134896 của D là công cụ phạm tội; đƣợc đựng trong phong bì ghi chữ “CÔNG AN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG”ký hiệu M3 đƣợc dán kín niêm phong bới các chữ ký ghi rõ họ tên Đàm Đình Dũng, Trƣơng Ngọc Nhất, Hoàng Minh Tuân, Đới Xuân Hùng, Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Hữu Dũng cùng các hình dấu của Công an xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền mà Nguyễn Hữu D bán ma túy 04 lần cho S và H.
Đối với ngƣời đàn ông tên T cho D ma túy, quá trình điều tra xác định là Mai Văn T, sinh năm 1984, trú tại xã T, huyện Quảng Xƣơng. Tuy nhiên Mai Văn T đã chết ngày 27/4/2023 nên không có căn cứ xử lý.
Đối với Nguyễn Văn H và Nguyễn Phi S là hai ngƣời nghiện ma túy, đã mua ma túy của Nguyễn Hữu D để sử dụng, do không thu giữ đƣợc số lƣợng ma túy mà H và S đã mua nên không có căn cứ xử lý. Tuy nhiên xét nghiệm ma túy đối với H và S đều dƣơng tính với chất ma túy, Cơ quan điều tra xử phạt vi phạm hành chính đối với H và S về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của BLHS 2015.
* Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hữu D phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hữu D 07 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/5/2023.
* Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b,c khoản 1 Điều 47 của BLHS 2015. Điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ký hiệu M1, M2 do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, dán kín niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Lê Minh Tiến, Đàm Đình Dũng, Nguyễn Trung Đức và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, bên trong có tổng khối lƣợng ma túy (sau giám định) là 0,323g (Không phẩy ba hai ba gam) loại: Heroine.
- Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy trắng kích thƣớc khoảng (11x 7)cm, đã bị xé một phần ở góc và 01 dao lam đã qua sử dụng, kích thƣớc khoảng (4x2)cm không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu phát mãi sung vào Ngân sách Nhà nƣớc 01 điện thoại di động Iphone 7, màu vàng nhạt, đã qua sử dụng, số IMEI: 359207074151237, lắp sim số 0342134896 của D là công cụ phạm tội; đƣợc đựng trong phong bì ghi chữ “CÔNG AN HUYỆN QUẢNG XƢƠNG”ký hiệu M3 đƣợc dán kín niêm phong bới các chữ ký ghi rõ họ tên Đàm Đình Dũng, Trƣơng Ngọc Nhất, Hoàng Minh Tuân, Đới Xuân Hùng, Nguyễn Hữu Chung, Nguyễn Hữu Dũng cùng các hình dấu của Công an xã Quảng Thạch, huyện Quảng Xƣơng.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nƣớc số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng) là tiền mà Nguyễn Hữu D bán ma túy 04 lần cho Phi và H.
(Toàn bộ số vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Xương theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2023).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng Án phí và Lệ phí Tòa án; Mục 1, Phần I Danh mục án phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hữu D phải nộp 200.000đ án phí HSST.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND H Quảng Xương; - THADS huyện Quảng Xương; - Công an huyện Quảng Xương; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đào Thị Thu Thủy |