vanban.org

Bản án 74/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 10/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TP, thành phố LC, tỉnh LC quản lý, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa á… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-----------------
Bản án số:74/2023/HS - ST
Ngày 10/05/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà:

Ông Ngô Minh Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Yêm

2. Bà Nguyễn Thị Mai

- Thư ký phiên toà: Bà Trương Thị Hà – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Luân – Kiểm sát viên.

Ngày 10/05/2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 64/2023/TLST-HS ngày 11/04/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 67/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 04 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Thanh T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1981 tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Tổ 19, phường TP, thành phố LC, tỉnh LC; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 12/12; Con ông: Lê Văn T, sinh 1957; Con bà: Cao Thị H, sinh 1958; Vợ: Nguyễn Thị Hồng D; có 03 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2021; Theo danh bản, chỉ bản số 96 lập ngày 30/12/2022 tại Công an huyện Đông Anh bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

2. Bị hại: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1976; trú tại: Xóm N, xã VN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội (Chết do tai nạn giao thông ngày 23/10/2022).

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lê Tuấn L, sinh năm 1974 (Chồng bà Nguyễn Thị Q); Anh Lê Việt C, sinh năm 1997; Ông Nguyễn Hồng K, sinh năm 1940; Bà Phạm Thị Q, sinh năm 1940.

Trú tại: Xóm N, xã VN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí A, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn NL, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Khoảng 6h30’ ngày 23/10/2022, Lê Thanh T (có Giấy phép lái xe hạng C) điều khiển xe ôtô tải BKS 20H- 008.73 lưu thông trên đường 23B, chiều NH hướng đường VNG. Khi đi đến khu vực ngã 4 có đèn tín hiệu giao thông với đường VT thuộc địa phận khu phố VT, xã VN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, T điều khiển xe ô tô chuyển hưởng rẽ phải vào đường VT thì xảy ra va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị Q (sinh năm 1976; trú tại: XN, xã VN, huyện ĐA) điều khiển, lưu thông phía trước cùng chiều.

Hậu quả: Bà Nguyễn Thị Q bị thương được đưa đến Bệnh viện VĐ cấp cứu nhưng do thương tích nặng nên bà Q đã tử vong vào hồi 10 giờ ngày 23/10/2022.

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện Đông Anh đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các dấu vết phương tiện liên quan; Trưng cầu giám định cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết trên các phương tiện liên quan. Đồng thời Trưng cầu pháp y tử thi đối với bà Nguyễn Thị Q, tuy nhiên gia đình bà Q từ chối pháp y mổ tử thi chỉ đồng ý khám ngoài tử thi.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn là khu vực ngã 4 đường giao nhau có đèn tín hiệu giao thông, mặt đường trải nhựa, phẳng; Đường 23B rộng 13m; đường VT rộng 8,2m. Lấy mép đường bên phải đường VT, chiều đường 23B hướng đường HS làm chuẩn:

- Xe ôtô BKS 20H- 008.73 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng đường HS; Hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường làm chuẩn 0,8m và cách cột điện KM0 là 1,4m; Hình chiếu tâm trục bánh sau cùng bên phải cách mép đường làm chuẩn 0,9m.

- Xe đạp đổ nằm nghiêng phải dưới gầm xe ôtô BKS 20H- 008.73, đầu xe hướng chếch đường VT; Hình chiếu tâm trục bánh trước cách mép đường làm chuẩn 1,62m và cách hình chiếu tâm trục bánh trước bên phải xe ôtô BKS 20H-008.73 là 1,25m; Hình chiếu tâm trục bánh sau cách mép đường làm chuẩn 2,1m.

- Mặt đường để lại: Vùng tổ chức cơ thể người, trượt lốp, nhựa vỡ KT (13,1x0,7)m, điểm gần nhất của đầu vết cách mép đường làm chuẩn 3,35m, điểm gần nhất của cuối vết cách mép đường làm chuẩn 0,15m và cách hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên phải xe ôtô BKS 20H- 008.73 là 0,25m; Vùng vết cày KT (0,7x0,4)m, điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn 4,2m và cách hình chiếu tâm trục bánh sau bên phải xe ôtô BKS 20H- 008.73 là 3,8m.

Hiện trường để lại:

- Vùng vết cày KT (0,7 X 0,4)m có điểm gần nhất cách mép đường làm chuẩn là 4,2m và có điểm gần nhất cách hình chiếu tâm đầu trục bánh sau bên phải ô tô BKS 20H – 008.73 là 3,8m.

- Đo khoảng cách từ hình chiếu tâm đầu trục bánh trước bên phải xe ô tô BKS 20H – 008.73 đến cột điện làm mốc là 1,4m.

Tạm giữ vật chứng trong quá trình khám nghiệm hiện trường:

- Xe ôtô BKS 20H- 008.73 nhãn hiệu Chenglong, loại xe ôtô tải, số máy YC6L35050LG1L9M01080, số khung LNXAEN0C7NL400573.

- Xe đạp nhãn hiệu Warrior.

Tại trích sao bệnh án số 7556 ngày 24/11/2022 của Bệnh viện Hữu nghị VĐ xác định thương tích của chị Nguyễn Thị Q: Sốc đa chấn thương, lóc da rộng toàn bộ đùi phải. Chẩn đoán: Tử vong do sốc đa chấn thương.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1502/GĐTT-TTPY ngày 07/11/2022của Trung tâm Pháp y Hà Nội kết luận:

Các dấu hiệu chính qua giám định: Các vết xây sát, bầm tím da mặt trước ngoài và mặt sau khuỷu tay phải; xây sát da mặt sau khuỷu tay trái; xây sát da mặt sau ngoài 1/3 trên cẳng tay trái; xây sát, bầm tím da lưng phải; xây sát, bầm tím da vùng thắt lưng và mông trái; xây sát, bầm tím da đùi phải; xây sát da mắt cá ngoài chân phải; rách da lóc da lộ gân cơ, xương bánh chè chân phải; xây sát, bầm tím mắt cá và mặt ngoài bàn chân trái: Do va chạm với vật tày gây nên.

Kết luận: Do không mổ tử thi nên không kết luận được nguyên nhân chết.

Tại Bản kết luận giám định số 7257/KL-KTHS ngày 09/11/2022 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an, kết luận:

Dấu vết hằn, trượt xước mất nhựa màu đen ở mặt ngoài ốp nhựa cạnh đèn chiếu sáng dưới cùng bên phải phía trước đầu xe ô tô biển số 20H- 008.73 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt, bám dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài chi tiết kim loại bắt giữ hãm phanh bên trái phía trước xe đạp. Dấu vết va chạm tại vị trí này ở xe đạp có chiều từ sau về trước.

Dấu vết trượt bám dính chất màu đen (dạng nhựa) ở mặt ngoài nhíp giảm xóc trước bên phải phía dưới đầu xe ô tô biển số 20H- 008.73 có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt mất nhựa màu đen ở mặt ngoài bàn đạp bên trái của xe đạp. Dấu vết va chạm tại vị trí này ở xe đạp hình thành khi xe đạp đã đổ bên phải xuống đường, có chiều từ tâm trục bàn đạp ra cạnh ngoài của bàn đạp.

Dấu vết ký hiệu số 3 và số 4 (trong sơ đồ hiện trường) hiện tại không thể hiện rõ đặc điểm nên không đủ yếu tố giám định.

Căn cứ vào hồ sơ vụ tai nạn giao thông đường bộ gửi giám định: Xác định vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 20H- 008.73 và xe đạp trên mặt đường thuộc phần đường bên phải chiều hướng NH đi VNG.

Không xác định được tốc độ của xe ôtô biển số 20H- 008.73 và xe đạp tại thời điểm xảy ra va chạm.

Kết quả kiểm tra kỹ thuật an toàn phương tiện:

- Xe ôtô BKS 20H- 008.73: Hệ thống phanh tác dụng.

- Xe đạp bị hỏng nên không kiểm tra được tình trạng kỹ thuật phương tiện.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh T khai: Vào hồi 6 giờ 30 phút ngày 23/10/2022, T điều khiển xe ô tô BKS 20H – 008.73 lưu thông trên đường quốc lộ 23B chiều NH về hướng VNG đến ngã tư có tín hiệu đèn đỏ giao với đường VT thì dừng xe do đèn tín hiệu đỏ. Khi đèn xanh bật, T có bật đèn báo rẽ bên phải và điều khiển chếch qua bên phải vào đường VT, do không chú ý quan sát nên đâm vào bà Nguyễn Thị Q đang điều khiển xe đạp phía trước cùng chiều gây tai nạn.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn đối với Lê Thanh T xác định: Không có nồng độ cồn trong khí thở.

Kết quả trích xuất dữ liệu hình ảnh lưu trong USB ghi diễn biến vụ tai nạn giao thông và video thu từ camera hành trình xe ô tô BKS 20H – 008.73 đều xác định: Có hình ảnh thể hiện va chạm tai nạn giữa các phương tiện liên quan.

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, Kết quả khám nghiệm các dấu vết phương tiện liên quan, Bản ảnh trích xuất hình ảnh trong video liên quan, Kết luận giám định pháp y, Kết luận giám định dấu vết trên phương tiện liên quan và lời khai của Lê Thanh T cùng với các tài liệu điều tra thu thập được cho thấy có đủ cơ sở để xác định: Lỗi trong vụ tai nạn trên là do Lê Thanh T điều khiển xe ôtô chuyển hướng không quan sát gây tai nạn, vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ. Bà Nguyễn Thị Q không có lỗi trong vụ án.

Đối với xe ôtô BKS 20H- 008.73, kết quả điều tra xác định có chủ sở hữu hợp pháp là Nguyễn Chí A (Sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn NL, xã HT, huyện ĐH, tỉnh Thái Nguyên). Anh Nguyễn Chí A thuê Lê Thanh T lái xe theo hợp đồng lao động. Xe ôtô BKS 20H- 008.73 có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe, phần bảo hiểm anh Nguyễn Chí A không đề nghị cơ quan pháp luật giải quyết.

Đối với chiếc xe đạp nhãn hiệu Warrior là tài sản của gia đình bà Nguyễn Thị Q. Ngày 30/11/2022, Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu: Trao trả các tài sản trên chủ sở hữu.

Phần dân sự: Chủ xe ôtô BKS 20H- 008.73 và Lê Thanh T đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị Q số tiền 100.000.000đồng. Đại diện gia đình nạn nhân Q nhận tiền, không có đề nghị gì khác về phần dân sự và có đơn đề nghị miễn, giảm trách nhiệm hình sự đối với Lê Thanh T.

Tại bản Cáo trạng 60/CT-VKS- ĐA ngày 05/04/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh đã truy tố bị cáo Lê Thanh T ra trước Tòa án nhân dân huyện Đông Anh để xét xử về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người

...

5. Người phạm tội còn có thể cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Tại phiên toà:

Bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo đề nghị được xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện hợp pháp của bị hại xác định đã giải quyết xong về phần dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử miễn trách nhiệm Hình sự cho bị cáo.

Anh Nguyễn Chí A xác định đã hỗ trợ một phần kinh phí cho bị cáo T để bồi thường cho gia đình bị hại, tuy nhiên anh Anh không đề nghị xem xét giải quyết trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thanh T theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; trả lại cho bị cáo T 01 Giấy phép lái xe ô tô.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Anh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong quá trình điều tra vụ án nên có căn cứ xác định: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 23/10/2022, Lê Thanh T (có Giấy phép lái xe ô tô hạng C) điều khiển xe ôtô tải BKS 20H- 008.73 lưu thông trên đường 23B, chiều NH hướng đường VNG. Khi đi đến khu vực ngã 4 có đèn tín hiệu giao thông với đường VT thuộc địa phận khu phố VT, xã VN, huyện ĐA, thành phố Hà Nội, Lê Thanh T điều khiển xe chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát dẫn đến đâm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị Q điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều, hậu quả làm bà Q tử vong.

Hành vi của bị cáo Lê Thanh T đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không.

Tình tiết giảm nhẹ :

Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã cùng chủ xe khắc phục hậu quả, bồi thường cho gia đình bị hại 100.000.000 đồng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đại diện gia đình bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có ông nội là Lê Văn Cẩn được tặng Huân chương kháng chiến Hạng Nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của phạm tội của bị cáo Lê Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ do đó cần phải được xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự. Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm b, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự - đây là căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt và cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Áp dụng điểm a Khoản 1 Điều 260; Điểm b, s Khoản 1 Điều 51; Khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/04/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao, xử phạt: Bị cáo Lê Thanh T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TP, thành phố LC, tỉnh LC quản lý, giám sát trong thời gian thử thách của Bản án.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội:

+ Tuyên trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng C.

+ Buộc bị cáo Lê Thanh T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm để sung ngân sách Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo về phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ