vanban.org

Bản án 74/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 18/08/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 23 tháng 03 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng về tội “Đánh bạc”, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã XH, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ và đồng phạm đánh bạc, kháng cáo - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 23 tháng 03 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HS-PT
Ngày 11 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Huy Cẩn và ông Vũ Văn Mạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 82/2023/TLPT-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2023/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Bị cáo có kháng cáo:

1. Nguyễn Văn Đ, sinh ngày: 08/8/1979; Nơi đăng ký Hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã XH, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc; Chỗ ở: Thôn S, xã V Trục, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thái Đ và bà Lê Thị T; có vợ là Khổng Thị T (đã chết) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

2. Nguyễn Ngọc L, sinh ngày: 20/6/1976; Nơi cư trú: Thôn L, xã X, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Lưu và bà Nguyễn Thị Hương; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 17/10/1997, Công an huyện L1 khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Ngọc L về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 10/12/1997, Tòa án nhân dân huyện L1 ra quyết định số 04 đình chỉ vụ án đối với bị cáo L, do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

Ngoài ra, trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Văn Đ1, Dương Tiến T1, Vũ Tuấn A, Nguyễn Thị V và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/12/2022, Nguyễn Thị V đi xe máy Biển kiểm soát: 26H3 - 0389 đến nhà Nguyễn Ngọc L ở xã X, huyện L1 chơi. Tại đây, L mượn điện thoại của V gọi điện cho Nguyễn Văn Đ nói chuyện thì Đ rủ L đến nhà Đ đánh bạc, L đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, L điều khiển xe máy của V chở V đến nhà Đ chơi. Sau đó lần lượt có Vũ Tuấn A, Đ1, (là em trai Đ), Dương Tiến T1 cũng đến nhà Đ chơi. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Đ rủ L, V, Đồng, Tuấn A và T1 đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh Liêng thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Đ lấy chiếc chiếu tre trải xuống nền nhà và lấy bộ bài tu lơ khơ 52 quân đã cũ có sẵn ở nhà Đ rồi cùng mọi người ngồi vòng tròn trên chiếu đánh bạc, các đối tượng thỏa thuận mức sát phạt thấp nhất là 20.000 đồng, cao nhất là 100.000 đồng. Cách thức sử dụng 52 quân bài tu lơ khơ từ quân Át đến quân K, trong mỗi ván bài, mỗi người chơi sẽ đặt số tiền cược như nhau là 20.000 đồng, người cầm chương sẽ chia cho mỗi người chơi ba quân bài, sau khi chia xong mỗi người chơi sẽ có các lựa chọn: Úp bài là trường hợp bài của người chơi quá yếu, không có cơ hội thắng và người chơi sẽ mất số tiền đã đặt cược; Theo là tiếp tục đặt số tiền cược bằng với người ngồi cửa trên đã đặt thêm; Tố là đặt cược thêm tiền cao hơn so với số tiền của người ngồi cửa trên đã đặt nhưng không quá 100.000 đồng. Sau khi tất cả đã lựa chọn xong, người chơi sẽ lật bài của mình, bài của người nào lớn nhất thì người đó thắng toàn bộ số tiền của những người chơi đã đặt cược trong ván đó. Việc xác định thắng – thua theo thứ tự: Thứ nhất là Sáp (03 lá bài giống nhau); Thứ hai là Liêng (có 03 lá bài liên tiếp nhau), nếu người chơi cùng có Liêng thì xác định thắng – thua theo chất rô, cơ, tép, bích; Thứ ba là Ảnh (cả ba lá bài chỉ có quân J, Q, K); Thứ tư là tính điểm (cộng điểm 3 lá bài), ai cao hơn sẽ thắng, nếu bằng điểm thì xác định thắng – thua theo thứ tự rô, cơ, tép, bích. Các đối tượng đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị Công an huyện L1 phát hiện, bắt quả tang. Thu trên chiếu bạc số tiền 12.770.000 đồng, 52 quân bài tu lơ khơ và các vật chứng liên quan.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm xác định: Nguyễn Văn Đ có 1.000.000 đồng, Dương Tiến T1 có 1.150.000 đồng, Đ1 có 7.500.000 đồng, Vũ Tuấn A có 670.000 đồng, Nguyễn Ngọc L có 1.800.000 đồng, Nguyễn Thị V có 650.000 đồng đều sử dụng vào mục đích đánh bạc. Như vậy tổng số tiền các bị can sử dụng để đánh bạc là 12.770.000 đồng. Ngoài số tiền trên các bị cáo không sử dụng tài sản gì khác để đánh bạc.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2023/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Ngọc L phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 17 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Ngọc L 11 (Mười một) tháng tù, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 25/12/2022 đến ngày 28/12/2022, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Đ1, Dương Tiến T1, Vũ Tuấn A, Nguyễn Thị V, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 08/5/2023, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1 với nội dung xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L, sửa bản án sơ thẩm số 38/2023/HS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn Đ, Nguyễn Ngọc L phạm tội “Đánh bạc”, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 năm 01 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 02 tháng tháng; xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 11 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 10 tháng; thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm và giao các bị cáo Đ, L cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn Đ và đồng phạm đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:

Từ 14 giờ đến 16 giờ ngày 25/12/2022, tại nhà của Nguyễn Văn Đ ở thôn S, xã V Trục, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc, Đ cùng Đ1, Nguyễn Ngọc L, Dương Tiến T1, Nguyễn Thị V và Vũ Tuấn A đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh Liêng được thua bằng tiền thì bị Công an huyện L1 phát hiện, bắt quả tang và thu giữ số tiền các bị cáo sử dụng vào đánh bạc là 12.770.000 đồng.

Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn Đ và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L:

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn Đ, xét thấy: Bị cáo Đ không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Thái Đ là người có công với Cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm tài liệu chứng cứ mới là đơn có xác nhận của UBND xã XH, huyện L1 nội dung gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bị cáo già yếu, vợ bị cáo đã chết, hiện bị cáo một mình nuôi hai con nhỏ và là lao động chính trong gia đình. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy bị cáo có vai trò rủ rê, khởi xướng nhưng vụ án này là vụ án đồng phạm có tính chất giản đơn, không có tổ chức, quy mô các bị cáo đánh bạc không lớn, tổng số tiền của 6 bị cáo đánh bạc là 12.770.000 đồng, trong đó bị cáo chỉ có 1.000.000 đồng tham gia đánh bạc, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, đủ điều kiện để áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự, vì vậy không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam mà cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cũng như tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo, sửa chữa sai lầm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Ngọc L, xét thấy: Bị cáo L thực hiện tội phạm với vai trò đồng phạm, số tiền đánh bạc của bị cáo không lớn (1.800.000 đồng). Ngày 17/10/1997, bị cáo bị Công an huyện L1 khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội “Cố ý gây thương tích”, nhưng ngày 10/12/1997 Tòa án nhân dân huyện L1 ra quyết định số 04 đình chỉ vụ án đối với bị cáo do bị hại rút đơn yêu cầu khởi tố, do vậy chưa có phán quyết của Tòa án buộc tội bị cáo nên lần phạm tội này của bị cáo được tính là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tòa cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 điều 51 đối với bị cáo là thiếu sót. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới là đơn có xác nhận của UBND xã X, huyện L1 nội dung gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố bị bệnh ung thư, mẹ già yếu, bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và chăm sóc bố bệnh tật. Xét thấy bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện để áp dụng điều 65 Bộ luật Hình sự nên có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật và giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để răn đe, phòng ngừa chung và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, cần chấp nhận.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 32/2023/HS-ST ngày 23 tháng 03 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm 01 (Một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 02 (Hai) tháng về tội “Đánh bạc”, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Đ cho UBND xã XH, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc L 11 (Mười một) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (Một) năm 10 (Mười) tháng về tội “Đánh bạc”, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Ngọc L cho UBND xã X, huyện L1, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án; các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Ngọc L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Cỡ chữ