vanban.org

Bản án 74/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 27/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Hữu K và sửa bản án sơ thẩm; Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hữu K; - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 35 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2023/HS-PT
Ngày: 27/3/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Phước Thanh

Các thẩm phán:

Ông Phạm Văn Hợp

Ông Phạm Việt Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Phong, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thọ Định, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2023/TLPT-HS ngày 13 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo Đặng Hữu K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2022/HSST ngày 06/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Đặng Hữu K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/11/1991 tại tỉnh Quảng Ngãi; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: Thôn B, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; con ông Đặng T và bà Nguyễn Thị N; vợ con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 12/02/2022 bị Công an xã N, thành phố Q xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, với số tiền 1.500.000 đồng.

Nhân thân: Năm 2012, bị TAND tỉnh Quảng Ngãi tuyên phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 27/4/2015 chấp hành xong hình phạt, đã được xoá án tích. (Tại bản án số: 180/2012/HS-PT ngày 27/9/2012, tên bị cáo là Đặng Hữu K1 (Bút lục 242-246); theo Kết luận giám định số 939/KL-KTHS ngày 17/10/2022 kết luận: Dấu vết đường vân trên bản sao y bản chính chỉ bản số 19, lập ngày 20/3/2022 của Đặng Hữu K (Được đánh số 1) và dấu vết đường vân trên bản sao y chỉ bản số 24, lập ngày 20/02/2022 của Đặng Hữu K (Được đánh số 2) do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi gửi đến trưng cầu giám định là của cùng một người in ra (Bút lục 461)). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/02/2022 đến nay, Có mặt.

- Người bào chữa theo luật định cho bị cáo Đặng Hữu K: Bà Phạm Thị Bích C – Luật sư Công ty L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Quảng Ngãi; địa chỉ: A Đ, phường N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi, Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 21 giờ 20 phút ngày 14/02/2022, Công an huyện N, tỉnh Quảng Ngãi phát hiện và bắt quả tang Đặng Hữu K có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cho Mai Thị Thùy D tại tổ dân phố P, thị trấn C, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi. Tang vật thu giữ gồm: 01 túi ni lông bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng và 04 viên nén màu xám. K khai nhận viên nén màu xám là ma túy “Kẹo” và hạt tinh thể màu trắng là ma túy “Khay”. Công an huyện N tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ đồ vật có liên quan.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Hữu K tại thôn B, xã N, thành phố Q phát hiện thu giữ số tiền 147.000.000 đồng; 01 (Một) túi ni lông màu trắng, kích thước (8,7 x 15)cm, bên trong có chứa 16 túi ni lông màu trắng có kích thước giống nhau (2,8 x 3)cm, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 (Một) túi ni lông màu trắng, kích thước (4 x 7,7)cm, bên trong có chứa 06 túi ni lông màu trắng, gồm 04 túi ni lông màu trắng có kích thước giống nhau (2,8 x 3)cm và 02 túi ni lông màu trắng, kích thước giống nhau (2 x 2,2)cm, bên trong các túi ni lông chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 (Một) túi ni lông màu trắng, kích thước (7 x 11,6) cm, bên trong có chứa 65 (Sáu mươi lăm) viên nén màu xám, hình dạng không xác định, có kích thước giống nhau (0,9 x 1) cm. K khai nhận các hạt tinh thể màu trắng bên trong túi ni lông là ma túy dạng “Khay”, 65 (Sáu mươi lăm) viên nén là ma túy “tổng hợp”; 01 cân điện tử; 277 túi ni lông rỗng với nhiều kích thước khác nhau và nhiều dụng cụ sử dụng phân chia ma túy để bán.

Ngày 15/02/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N ra Quyết định trưng cầu giám định số: 19/QĐHS, trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi giám định chất ma túy thu giữ của Đặng Hữu K khi bắt quả tang và khám xét tại nhà ở.

Tại Kết luận giám định số 134/KLGĐ-PC09 ngày 17/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận: Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong túi niêm phong thứ nhất có mã số NS4 1915795 gửi giám định là ma túy loại Ketamine khối lượng mẫu 0,99 gam. 04 viên nén màu xám bên trong túi niêm phong thứ nhất có mã số NS4 1915795 gửi giám định là ma túy loại MDMA khối lượng mẫu 1,57 gam. Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong túi niêm phong thứ hai có mã số NS3 1907893 gửi giám định là ma túy loại Ketamine khối lượng mẫu 20,20 gam. 65 viên nén màu xám bên trong túi niêm phong thứ hai có mã số NS3 1907893 gửi giám định là ma túy loại MDMA khối lượng mẫu 25,82 gam.

Tổng khối lượng mẫu ma túy loại Ketamine (Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng) bên trong 02 túi niêm phong gửi giám định là 21,19 gam; tổng khối lượng mẫu ma tuý loại MDMA (69 viên nén màu xám) bên trong 02 túi niêm phong gửi giám định là 27,39 gam.

MDMA là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 27, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Ketamine là chất ma túy nằm trong danh mục III, STT 35, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Quá trình điều tra Đặng Hữu K khai nhận: Do cần vốn để mở quán cà phê kiếm thu nhập, khoảng ngày 12/02/2022, K liên hệ với một người phụ nữ tên “Na” ở Thành phố Hồ Chí Minh qua điện thoại để mua 700 viên ma túy “kẹo” và 02 hộp ma túy “khay” với giá 134.400.000 đồng. Sau khi nhận hàng từ nhà xe T1 do người phụ nữ gửi về, K đem về nhà ở thôn B, xã N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi mở ra có 70 (Bảy mươi) viên “kẹo” (Ma túy tổng hợp), 02 (Hai) hộp khay (Ma túy Ketamine), 01 (Một) cân tiểu ly, nhiều túi ny lông rỗng. K lấy ra 01 viên cho vào ly nước ngọt nhãn hiệu Coca-Cola, sau 15 phút thấy tan hết trong nước, K biết là ma túy có chất lượng; còn lại 69 (Sáu mươi chín) viên và 02 (Hai) hộp ma túy “Khay”, K dùng cân tiểu ly phân ra, cho vào nhiều túi ny lông khác nhau; sau đó, cất giấu tại nhà để bán dần.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 14/02/2022, Mai Thị Thùy D là tiếp viên ở quán K3 tại thị trấn C, huyện N sử dụng số điện thoại “0945018973” gọi điện đến số máy điện thoại di động “0962442429” của K hỏi mua “04 con kẹo và nửa hộp 5” cho khách đang hát karaoke tại quán. Kỹ báo giá tiền 01 viên “kẹo” là 350.000 đồng, nửa hộp “khay” là 3.500.000 đồng, 300.000 đồng tiền taxi, tổng cộng giá tiền là 5.200.000 đồng. Sau khi nghe Kỹ báo giá, D hỏi khách hát Karaoke và khách đồng ý mua thì D điện thoại nói K đem ma túy đến quán K3 để giao, K thuê xe taxi của hãng taxi M đi từ thành phố Q đến quán K3, khi K đến nơi và chờ giao ma túy thì bị Công an huyện N bắt quả tang.

- Tại bản kết luận giám định số 185/KL-KTHS ngày 02/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận dữ liệu di động đối với 01 (Một) điện thoại hiệu Iphone, màu bạc bên trong gắn 01 (Một) thẻ sim Viettel thu giữ của Đặng Hữu K vào ngày 14/02/2022 thể hiện: Số thuê bao của thẻ sim là 0962442429, tại nhật ký cuộc gọi trong khoảng thời gian từ 08 giờ 36 phút tối đến 09 giờ 21 phút tối ngày 14/02/2022 có phát sinh cuộc gọi đến, đi từ số thuê bao 0962442429 và 0945018973.

- Tại bản kết luận giám định số 186/K-KTHS ngày 21/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận dữ liệu di động đối với 01 (Một) điện thoại hiệu VIVO, màu xanh của Mai Thị Thùy D thể hiện tại nhật ký cuộc gọi và lịch sử tin nhắn có trong khoảng thời gian từ 08 giờ 36 phút tối đến 09 giờ 21 phút tối ngày 14/02/2022 có phát sinh cuộc gọi đi, đến từ số thuê bao 0945018973 và 0962442429.

Tại n án h nh s sơ thẩm s

T ngà

c a Tòa án nhân dân t nh u ng Ng i đ qu ết đ nh:

Tuyên bố bị cáo Đặng Hữu K, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu K 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 14/02/2022.

Áp dụng khoản 2, 3 Điều 35; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đối với bị cáo Đặng Hữu K

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mai Thị Thùy D, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, bị cáo Đặng Hữu K có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo; sửa bản án sơ thẩm và giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

+ Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã quy kết.

+ Luật sư bào chữa cho bị cáo Đặng Hữu K cho rằng bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử theo điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có hoàn cảnh gia đình khó khăn và tại giai đoạn phúc thẩm bị cáo khắc phục một phần tiền phạt, bị cáo lập thành tích tố giác tội phạm, gia đình bị cáo có công nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Bị cáo Đặng Hữu K khai nhận toàn bộ khối lượng ma túy loại Ketamine và loại MDMA do Cơ quan Công an thu giữ là do bị cáo mua của một người không rõ lai lịch, về nhằm mục đích bán lại và trong khi đang mua bán ma túy thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản sự việc lập lúc 21h 20 ngày 14/02/2022 và biên bản khám xét nơi ở bị cáo Đặng Hữu K vào lúc ngày14/02/2022; phù hợp với Bản kết luận giám định số số 134/KLGĐ-PC09 ngày 17/02/2022, số 185/KL-KTHS ngày 02/4/2022 và số 186/K-KTHS ngày 21/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi và phù hợp với lời khai của Mai Thị Thùy D nên HĐXX cấp phúc thẩm có đủ căn cứ để kết luận: Hành vi của bị cáo Đặng Hữu K đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự như Tòa án cấp sơ thẩm quy kết là có căn cứ và đúng người và đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo:

Tệ nạn ma túy gây ra tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe, nhân cách người bị nghiện, đến đời sống xã hội và hiện nay nên Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và quyết định xử phạt bị cáo 16 năm tù là phù hợp. Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo: nộp một phần tiền phạt bổ sung, gia đình bị cáo có công (được chính quyền địa phương chứng nhận) và theo xác nhận, đề nghị của Công an T2 ngày 06/12/2022; thể hiện bị cáo có thành tích giúp cho Công an huyện S triệt phá vụ đánh bạc trái phép tại địa bàn thôn A, xã T. Đây là các tình tiết giảm nhẹ mới cần xem xét giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, để khuyến khích người phạm tội đã thực sự ăn năn hối cải. Dô đó, HĐXX cấp phúc thẩm giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đặng Hữu K và sửa bản án sơ thẩm;

Áp dụng: Điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Hữu K 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/02/2022.

Áp dụng khoản 2, 3 Điều 35; khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: Phạt bổ sung 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) đối với bị cáo Đặng Hữu K

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Mai Thị Thùy D, về xử lý vật chứng và về án phí sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Đặng Hữu K không phải chịu án phí phúc thẩm. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ