vanban.org

Bản án 74/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Vòng Kỉnh Y.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vòng Kỉnh Y được ly hôn với ông Lê Xuân Trường N. Về con chung: Giao cho bà Vòng Kỉnh Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Lê Đăng KH, sinh ngày 26/12/2016 đến tuổi trưởng thành. Bà Y không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Vòng Kỉnh Y.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 74/2023/HNGĐ - ST
Ngày: 13/6/2023
V/v:“Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Hiến

Ông Trương Tha

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đỗ Gia Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 06 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số:156/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 03 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 05 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 56/2023/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 06 năm 2023 giữa các đương sự:

* N đơn: Bà Vòng Kỉnh Y - sinh năm 1993 Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố 4, phường N, thị xã N, tỉnh K. Chỗ ở hiện nay: Ấp N xã T, huyện Tr, tỉnh Đ. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Bị đơn: Ông Lê Xuân Trường N – sinh năm 1992 Nơi cư trú: Tổ dân phố 4, phường N, thị xã N, tỉnh K.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 27/02/2023, bản tự khai ngày 31/3/2023, biên bản hòa giải và tại đơn xin xét xử vắng mặt N đơn bà Vòng Kỉnh Y trình bày: Bà Y và ông N tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân phường Ninh Hiệp, thị xã N. Quá trình chung sống, giữa bà Y và ông N phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, không tin tưởng lẫn nhau dẫn đến giữa bà Y và ông N thường xuyên xảy ra cãi vả nhau. Bà Y, ông N đã tự hòa giải và được gia đình hai bên khuyên bảo về chung sống với nhau nhưng không thành mà cuộc sống vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, không có hạnh phúc. Hiện tại, bà Y và ông N đã không còn chung sống 4 năm nay. Nay xét tình cảm không còn nên bà Y xin ly hôn với ông N.

Về con chung: Bà Y và ông N có 01 con chung là cháu Lê Đăng, sinh ngày 26/12/2016. Hiện nay cháu KH đang sống cùng với bà Y nên bà Y yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu KH.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y xác định bà Y và ông N không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn ông Lê Xuân Trường N: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thị xã N đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án cho ông N được biết và trong quá trình giải quyết vụ án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông N vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai cũng như không thể tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Tòa án nhân dân thị xã N thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, xét mâu thuẫn giữa N đơn và bị đơn là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên yêu cầu khởi kiện của N đơn là có căn cứ vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của N đơn. Về con chung: Giao cháu Lê Đăng KH, sinh ngày 26/12/2016 cho bà Vòng Kỉnh Yển trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Yển không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết; quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Lê Xuân Trường N đã được Tòa án thông báo hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa ngày 02/6/2023 ông N đã không có mặt, Tòa án đã hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa ngày 13/6/2023 ông N tiếp tục vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung

[2] Về thẩm quyền giải quyết: N đơn bà Vòng Kỉnh Y khởi kiện bị đơn ông Lê Xuân Trường N có địa chỉ tại Tổ dân phố 4, phường Ninh Hiệp, thị xã N về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thị xã N theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Vòng Kỉnh Y và ông Lê Xuân Trường N kết hôn trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân phường Ninh Hiệp, thị xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn số 126 ngày 14/9/2016. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Theo lời trình bày của bà Y thì quá trình chung sống, vợ chồng bà Y và ông N không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, bà Y và ông N đã không còn chung sống với nhau 4 năm nay. Bà Y vẫn giữ N yêu cầu được ly hôn với ông N. Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông N đến Tòa án để làm việc và ghi nhận ý kiến về yêu cầu xin ly hôn của bà Y nhưng đến thời điểm này ông N vẫn vắng mặt không có lý do cho thấy ông N đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Y. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định, tình trạng hôn nhân giữa bà Y và ông N đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nếu cứ tiếp tục duy trì cuộc sống gia đình thì cũng không đem lại hạnh phúc cho đôi bên nên yêu cầu ly hôn của bà Y là chính đáng, có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Vòng Kỉnh Y đối với ông Lê Xuân Trường N.

[4] Về con chung: Bà Võng Kỉnh Y và ông Lê Xuân Trường N có 01 con chung là Lê Đăng KH, sinh ngày 26/12/2016. Bà Vòng Kỉnh Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu KH, không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện nay cháu KH đang do bà Ngân trực tiếp nuôi dưỡng và cháu đang còn nhỏ rất cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cháu KH, Hội đồng xét xử giao cháu Lê Đăng KH cho bà Vòng Kỉnh Y trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Vòng Kỉnh Y không yêu cầu ông Lê Xuân Trường N cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Vòng Kỉnh Y xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Về án phí: Bà Vòng Kỉnh Y phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Xét về quan điểm giải quyết vụ án của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28, khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 271, và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của N đơn bà Vòng Kỉnh Y.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vòng Kỉnh Y được ly hôn với ông Lê Xuân Trường N.

- Về con chung: Giao cho bà Vòng Kỉnh Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là Lê Đăng KH, sinh ngày 26/12/2016 đến tuổi trưởng thành. Bà Y không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, bà Vòng Kỉnh Y và ông Lê Xuân Trường N có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Vòng Kỉnh Y xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Quy định: Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

2. Về án phí: Bà Vòng Kỉnh Y phải nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0000727 ngày 07/03/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. Bà Y đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: N đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Khánh Hòa;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND thị xã N;

- Chi cục THADS thị xã N;

- UBND phường N, thị xã N;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Nguyễn Thị Thủy

Cỡ chữ