- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị H xin ly hôn anh Đ"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ H xin ly hôn ông Nguyễn Xuân Đ.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HNGĐ-ST Ngày 11/5/2023 “V/v: Ly hôn và nuôi con chung”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Liên
2. Bà Tống Thị Điệp
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cảnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại Hội trường xét xử trụ sở Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1164/2022/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 12 năm 2022, về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2023/QĐST-HNGĐ ngày 19/ 4/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Mỹ H, sinh năm 1989.
Nơi đăng ký HKTT: Tổ dân phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Chỗ ở hiện nay: Hẻm 11 Y N, tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1981.
Địa chỉ: Số 70B đường A5, Buôn Đ, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Thị Mỹ H trình bày có nội dung như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ H và ông Nguyễn Xuân Đ tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tâm T, huyện C, tỉnh Đắk Nông ngày 03/5/2007.
Về mâu thuẫn vợ chồng: Sau khi kết hôn vợ chồng bà H chuyển về cư trú và sinh sống cùng bố mẹ bà H tại Tổ dân phố 5, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho đến năm 2015, đến năm 2016 vợ chồng bà H chuyển về sinh sống nhà bố mẹ chồng tại thôn 1, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho đến năm 2019. Sau đó thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính cách không phù hợp, quan điểm sống bất đồng, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng đã cố gắng hòa hợp để hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống chung vẫn không có hạnh phúc, sau đó thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, bà H và hai con chuyển về Hẻm 11 Y N, tổ dân phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà H xác định không còn tình cảm với ông Nguyễn Xuân Đ nữa nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Đ.
Về con chung: Bà H và ông Nguyễn Xuân Đ có hai người con chung là cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 24/8/2008 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 11/8/2011. Hiện hai con chung đang do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên sau khi ly hôn bà H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung cho đến khi đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn ông Nguyễn Xuân Đ: Trong quá trình giải quyết vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình không hợp tác làm việc, vắng mặt không tham gia tố tụng nên Tòa án không tiến hành ghi lời khai, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ của vụ án từ khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ H xin ly hôn ông Nguyễn Xuân Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ H được ly hôn với ông Nguyễn Xuân Đ.
Về con chung: Giao cháu Nguyễn Minh T, sinh ngày 24/8/2008 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 11/8/2011 cho bà Phạm Thị Mỹ H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Nguyễn Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn ông Nguyễn Xuân Đ có cư trú và sinh sống tại xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông Đ lấy nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại UBND xã Tâm T, huyện C, tỉnh Đắk Nông ngày 03/5/2007, là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống, thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng tính cách không phù hợp, quan điểm sống bất đồng, trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung, vợ chồng đã cố gắng hòa hợp để hàn gắn tình cảm nhưng cuộc sống chung vẫn không có hạnh phúc, sau đó thì mâu thuẫn vợ chồng phát sinh căng thẳng, bà H và hai con chuyển về Hẻm 11 Y N, tổ dân phố 7, phường Tân T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk sống và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay bà H xét thấy không còn tình cảm với ông Đ nữa nên bà H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà H được ly hôn với ông Đ.
Tại biên bản xác minh của Tòa án chính quyền địa phương cho biết bà H và ông Đ là vợ chồng, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi kết hôn đến năm 2016 bà H và ông Đ chuyển về cư trú và sinh sống cùng bố mẹ chồng ông Đ tại thôn 1, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho đến năm 2019. Về mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông Đ xảy ra như thế nào thì địa phương không nắm được, chỉ biết hiện nay vợ chồng đã sống ly thân mỗi người một nơi cho đến nay.
Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Đ vắng mặt không tham gia tố tụng, cố tình lẩn tránh, không hợp tác nên không thể hòa giải được, nên để mặc cho tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng không hòa giải đoàn tụ được.
Xét mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng giữa bà H và ông Đ đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân thì không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
. Về con chung: Hiện nay bà H đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 24/8/2008 và cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 11/8/2011 nên để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung và để ổn định cuộc sống của con chung cần giao hai con chung cho bà Phạm Thị Mỹ H được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi thành niên.
Ông Nguyễn Xuân Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 220, Điều 227, Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Mỹ H xin ly hôn ông Nguyễn Xuân Đ.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Mỹ H được ly hôn ông Nguyễn Xuân Đ.
Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Minh T, sinh ngày 24/8/2008 và Nguyễn Minh T1, sinh ngày 11/8/2011 cho bà Phạm Thị Mỹ H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Ông Nguyễn Xuân Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bà Phạm Thị Mỹ H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng mà bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2021/0022948 ngày 20/12/2022.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niếm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thị hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TA tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. BMT; - CCTHADS TP. B; - UBND xã Tâm T, huyện C, tỉnh Đắk Nông; - Các đương sự; - Lưu: HS + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Lê Đình Thanh |