- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Đặng Lê Kiều H về việc yêu cầu ly hôn với Ông Lý Hoàng P.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2023/HNGĐ-ST Ngày: 08-02-2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Nga
2. Bà Nguyễn Thị Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Ông Quách Minh Tuyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.
Ngày 08 tháng 02 năm 2023 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 878/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2022 về việc "Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 583/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 12 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2023/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 01 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Đặng Lê Kiều H, sinh năm: 1987;
Địa chỉ: A6/1 ấp 1, xã B, huyện B, Thành phố H
2. Bị đơn: Ông Lý Hoàng P, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: C9/3 ấp 3, xã T, huyện, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – Bà Đặng Lê Kiều H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: tôi và ông P chung sống vợ chồng với nhau năm 2013, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, Quyển số 01/2015 ngày 28/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, TP. HCM . Thời gian đầu vợ chồng chung sống bình thường hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, tôi không còn tình cảm vợ chồng với ông P. Nay tôi thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tôi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: có 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016. Hiện nay con đang sống chung với tôi.
Tôi yêu cầu trực tiếp nuôi 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí.
Tại phiên tòa, nguyên đơn – Bà Đặng Lê Kiều H vắng mặt (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
Bị đơn – Ông Lý Hoàng P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Đặng Lê Kiều H khởi kiện xin ly hôn với Ông Lý Hoàng P, đây là tranh chấp về ly hôn. Ông Lý Hoàng P cư trú tại huyện Bình Chánh. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.
Về sự vắng mặt của các đương sự: Ông Lý Hoàng P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt. Bà Đặng Lê Kiều H vắng mặt tại phiên tòa có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Lê Kiều H và Ông Lý Hoàng P có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, Quyển số 01/2015 ngày 28/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, TP. HCM. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa Bà Đặng Lê Kiều H và Ông Lý Hoàng P là vợ chồng hợp pháp.
Theo Bà Đặng Lê Kiều H xác định:
- Về quan hệ hôn nhân: vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn hòa hợp, không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, bà H không còn tình cảm vợ chồng với ông P. Nay bà H thấy mục đích hôn nhân không đạt được, bà H yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
- Về con chung: có 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016. Hiện nay con đang sống chung với Bà Đặng Lê Kiều H.
Bà Đặng Lê Kiều H yêu cầu trực tiếp nuôi 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tòa án đã tiến hành thủ tục hòa giải giữa Bà Đặng Lê Kiều H và Ông Lý Hoàng P, nhưng Ông Lý Hoàng P vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Căn cứ vào Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, quy định:
“1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
Xét thấy, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau, Bà Đặng Lê Kiều H không còn tình cảm với Ông Lý Hoàng P là vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho mục đích của hôn nhân không đạt được.
Xét quyền lợi về mọi mặt của con, hiện nay con Lý Nguyệt C, sinh năm 2016 đang sống ổn định với Bà Đặng Lê Kiều H.
Từ những cơ sở trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Bà Đặng Lê Kiều H về việc yêu cầu ly hôn với Ông Lý Hoàng P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Lê Kiều H được ly hôn với Ông Lý Hoàng P.
Về con chung: Bà Đặng Lê Kiều H trực tiếp nuôi 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Ghi nhận việc Bà Đặng Lê Kiều H không yêu cầu Ông Lý Hoàng P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đặng Lê Kiều H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Đặng Lê Kiều H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Lê Kiều H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Đặng Lê Kiều H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0041742 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Đặng Lê Kiều H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 19, Điều 51, Điều 52, Điều 53, Điều 54, Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết,
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Bà Đặng Lê Kiều H về việc yêu cầu ly hôn với Ông Lý Hoàng P.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Lê Kiều H được ly hôn với Ông Lý Hoàng P.
(theo Giấy chứng nhận kết hôn số 114/2015, Quyển số 01/2015 ngày 28/10/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Chánh, huyện Bình Chánh, TP. HCM)
Về con chung: Bà Đặng Lê Kiều H trực tiếp nuôi 01 con chung tên Lý Nguyệt C, sinh năm 2016 đến trưởng thành. Ghi nhận việc Bà Đặng Lê Kiều H không yêu cầu Ông Lý Hoàng P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Đặng Lê Kiều H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
Về nợ chung: Bà Đặng Lê Kiều H xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đặng Lê Kiều H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) mà Bà Đặng Lê Kiều H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/0041742 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh. Bà Đặng Lê Kiều H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND H. Bình Chánh; - Chi cục THADS H. Bình Chánh; - UBND nơi ĐKKH; - Các đương sự; - Lưu: VT-HS; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Ngọc Hải |