vanban.org

Bản án 74/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 16/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Tài Thu P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Tài Thu P 15 ( Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tài Thu Ph Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH HÒA BÌNH
Bản án số: 74 /2022/HSST
Ngày: 16/8/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Nga và bà Nguyễn Thị Mai Linh

Thư ký phiên toà: Ông Ninh Viết Tùng - Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/HSST ngày 07 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2022 đối với:

Bị cáo Tài Thu P. Sinh năm 1966 tại Hòa Bình. Giới tính: Nam. Nơi đăng ký HKTT: Tổ 9, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Chỗ ở khi bị bắt: tổ 3, phường P, thành phố H, tỉnh Hòa Bình. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 10/10. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Con ông Tài Văn M và bà Nguyễn Thị V. Có vợ là Lê Thị L và 01 con, sinh năm 1991. Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ năm.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Ngày 20/9/1994 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 09 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

- Năm 2002 bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 24 tháng.

- Năm 2004 bị Công an phường P xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 03/3/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

- Năm 2008 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.

- Ngày 26/6/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Ngày 22/9/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố H, tỉnh Hòa Bình xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 11/12/2019 chấp hành xong hình phạt.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/3/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hòa Bình, được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11h30 phút ngày 23/3/2022, tại khu vực tổ 18, phường P, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình, Công an thành phố Hòa Bình phạt hiện bắt quả tang Tài Thu P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo phía trong, bên trái của P đang mặc 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột dạng cục, màu trắng. Bị cáo P khai nhận đó là ma túy của bản thân vừa mới mua được.

Tại bản Kết luận giám định số 70/KLGĐ-CAT-PC09 ngày 29/3/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận: “ Mẫu chất bột dạng cục màu trắng, hồng trong gói giấy phong bì niêm phong một mặt có ghi đối tượng bị bắt Tài Thu P, sinh năm 1966 gửi giám định có khối lượng 0,17g là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine”.

Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Tài Thu P khai nhận: do bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 11h10 phút ngày 23/3/2022, Phong mượn được của Dương Mạnh H số tiền 200.000đ để mua thức ăn. Có tiền, P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110 màu xanh, BKS 28F3-8639 đi từ nhà ra khu vực trước cổng trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hòa Bình để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây, qua trao đổi, P mua được của đối tượng tên là H (còn gọi là H béo) 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Mua được ma túy, bị cáo P cất vào trong túi áo rồi điều khiển xe ra về. Khi đi tới khu vực tổ 18, phường P thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ tang vật.

Cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 06/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoà Bình truy tố Tài Thu P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm i khoản 1 điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Hòa Bình giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, điều 38 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật TTHS để xử phạt Tài Thu P từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng theo qui định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến bào chữa hay tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng, nhận thức được hành vi phạm tội của mình và mong nhận được mức án thấp nhất để sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi mà bị cáo đã thực hiện:

Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có đủ cơ sở xác định: Ngày 23/3/2022, bị cáo Tài Thu P đã có hành vi mua và cất giấu trái phép 0,17g ma túy loại Heroine và Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an trên địa bàn, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm và vi phạm pháp luật khác.

Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân đã nhiều lần bị xử lý hình sự về hành vi tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy, hoàn toàn nhận thức được việc mua và cất giữ bất hợp pháp ma túy pháp luật nghiêm cấm nhưng do coi thường pháp luật, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với khối lượng và số chất ma túy nên cần truy tố, xét xử bị cáo theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về nhân thân người phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự được áp dụng khi quyết định hình phạt. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện cần có mức hình phạt tù thỏa đáng, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng như răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định nên không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung.

Đối với hành vi khác trong vụ án.

Đối với hành vi của Dương Mạnh H cho bị cáo P mượn số tiền 200.000đ và hành vi của người đàn ông bị cáo khai đã bán ma túy cho bị cáo tại khu vực trước cổng trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Hòa Bình nhưng không rõ nhân thân, lai lịch, hành vi cụ thể, cơ quan điều tra đã xác minh nhưng không làm rõ được nên Tòa không có căn cứ giải quyết trong vụ án này.

Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn trả sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel thu giữ của bị cáo xét thấy bị cáo không sử dụng vào việc trao đổi mua ma túy, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo.

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110 màu xanh, BKS 28F3-8639 đã qua sử dụng, chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên cần giao cho CQĐT tiếp tục lưu giữ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Tài Thu P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Xử phạt: Tài Thu P 15 ( Mười lăm ) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2022.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả sau giám định chất ma túy mang tên Tài Thu P, sinh năm 1966.

- Trả lại cho bị cáo Tài Thu P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel màu đen, bên trong có một sim Viettl đã qua sử dụng.

- Giao Công an thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình lưu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave 110 màu xanh, BKS 28F3-8639 đã qua sử dụng để tiếp tục xác minh, làm rõ chủ sở hữu hợp pháp và xử lý theo quy định của pháp luật.

Các vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng số 72/BB ngày 13/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.

4. Về án phí: Bị cáo Tài Thu P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ