vanban.org

Bản án 74/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 22/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản án số: 74/2022/HS-ST
Ngày: 22-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Đức Khoa

Bà Lương Thị Mai Dung

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Linh, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Hoàng Quốc Thái, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Vũ Xuân T, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1988 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Tổ dân phố T2, thị trấn M, huyện T1, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Trọng S, sinh năm 1964 và con bà Trần Thị Kim H, sinh năm 1967; Chưa có vợ, con; Tiền án: Bản án số 183/2015/HSST ngày 15/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt Vũ Xuân T 08 năm tù về tội Cướp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/7/2015, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, ngày 16/6/2016 đã thi hành xong 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/4/2021; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị tạm giữ từ ngày 20/3/2022 đến ngày 23/3/2022 chuyển tạm giam; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1974; Địa chỉ: Số nhà 02, ngõ 5, đường 1, tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có phương tiện đi lại nên Vũ Xuân T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô của người đi đường. Để thực hiện ý định trên, khoảng 05 giờ ngày 20/3/2022, Vũ Xuân T xuống bếp của gia đình lấy 01 con dao bằng kim loại, dạng dao bầu dài khoảng 30 cm, bản rộng khoảng 05 cm, mũi nhọn, cất giấu vào trong người mục đích sẽ sử dụng dao đe doạ chủ tài sản để chiếm đoạt tài sản. Sau khi chuẩn bị hung khí, Vũ Xuân T đi bộ tới quán bánh mì của chị Lê Thị T4, sinh năm 1985, ở cùng Tổ dân phố T2, thị trấn M, huyện T1, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Vũ Xuân T nhìn thấy anh Nguyễn Văn L đang ngồi ăn sáng trong quán, dưới lòng đường có dựng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RS, màu sơn đỏ, biển số 16L8-1112. Quan sát thấy xung quanh vắng người, Vũ Xuân T tiến lại gần và bảo anh Nguyễn Văn L “Cho mượn con xe”, thấy vậy, anh Nguyễn Văn L đứng dậy cầm chìa khóa và nói “Có mỗi con xe để đi lại, không mượn được”. Thấy anh Nguyễn Văn L không đồng ý, Vũ Xuân T lấy dao từ trong người ra giơ về phía Nguyễn Văn L đe doạ “Có đưa không, đưa chìa khóa đây”. Anh Nguyễn Văn L sợ hãi, đưa chìa khóa xe mô tô cho Vũ Xuân T. Lấy được chìa khóa xe mô tô, Vũ Xuân T để con dao ở dưới võng xe rồi điều khiển xe mô tô bỏ đi. Sau khi bị Vũ Xuân T chiếm đoạt tài sản, anh Nguyễn Văn L đã đến Công an thị trấn Minh Đức trình báo. Công an thị trấn Minh Đức đã phối hợp với Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên tiến hành điều tra, xác minh. Biết hành vi chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn L bị phát hiện đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, Vũ Xuân T đã đến Công an thị trấn Minh Đức đầu thú và tự nguyện giao nộp lại chiếc xe mô tô chiếm đoạt được của anh Nguyễn Văn L.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, truy tìm con dao Vũ Xuân T sử dụng để đe doạ chiếm đoạt tài sản sau đó đánh rơi nhưng không thu giữ được. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐGTS ngày 22/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thủy Nguyên kết luận: 01 xe mô tô biển số 16L8-1112 giá trị là 3.500.000 đồng. Hiện anh Nguyễn Văn L đã được trả lại chiếc xe mô tô trên, anh không yêu cầu đề nghị bồi thường gì khác và có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Vũ Xuân T.

Cáo trạng số 79/CT-VKSTN ngày 02 tháng 8 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Vũ Xuân T về tội Cướp tài sản, quy định tại điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo từ chối người bào chữa, trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Xuân T với mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội Cướp tài sản. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng không có. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thủy Nguyên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan này trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo từ chối người bào chữa cho bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận định giá tài sản, biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận ngày 20/3/2022, bị cáo Vũ Xuân T đã có hành vi sử dụng dao bằng kim loại, dạng dao bầu dài khoảng 30 cm, bản rộng khoảng 05 cm, mũi nhọn đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc với anh Nguyễn Văn L làm anh Nguyễn Văn L sợ hãi, lâm vào tình trạng không thể chống cự được để bị cáo Vũ Xuân T chiếm đoạt được 01 chiếc xe mô tô biển số 16L8-1112 trị giá 3.500.000 đồng của anh Nguyễn Văn L tại khu vực Tổ dân phố T2, thị trấn M, huyện T1, thành phố Hải Phòng, bị cáo Vũ Xuân T đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý nên hành vi của bị cáo Vũ Xuân T đã phạm tội Cướp tài sản với tình tiết định khung hình phạt là sử dụng phương tiện nguy hiểm, tái phạm nguy hiểm theo điểm d, h khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 79/CT-VKSTN ngày 02 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:

Tính chất của vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm đã xâm phạm tài sản và sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo tự nguyện trả lại tài sản, thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã đầu thú, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã bị kết án và chưa được xoá án tích nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về mức hình phạt áp dụng: Phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức hình phạt chính mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Tại khoản 6 Điều 168 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung, do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về những vấn đề khác:

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, vấn đề dân sự: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Không có.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm d, h khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Vũ Xuân T 08 (tám) năm tù về tội Cướp tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 20/3/2022.

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Vũ Xuân T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ