- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRUỜNG TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 74/2022/HS-ST Ngày14-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đình Phấn;
Ông Vũ Xuân Thùy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tùng-Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Ngô Văn Thành-Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2022/TLST-HS, ngày 14 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 76/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn C, sinh ngày 12/5/1994; nơi cư trú: Xóm 3, xã x, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Cvà bà Đỗ Thị V (đều đã chết); bị cáo có vợ Hà Thị H, sinh năm: 1996; có 01 con sinh năm 2022; tiền án: Ngày 09/01/2013, TAND huyện Xuân Trường xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 29/7/2014, TAND huyện Xuân Trường xử phạt 27 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/7/2017, TAND huyện Xuân Trường xử phạt 33 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: Ngày 24/8/2021, Công an huyện Xuân Trường xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 15/8/2021 Công an huyện Xuân Trường xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; nhân thân; Năm 2008 bị Chủ tịch UBND huyện Xuân Trường quyết định đưa vào cơ sở giáo dưỡng. Ngày 24/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 8 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/6/2022; hiện đang tạm giam Công an tỉnh Nam Định; tại phiên tòa bị cáo có mặt.
2. Nguyễn Văn C, sinh ngày 01/7/1990; nơi cư trú: Xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Đỗ Thị V (đều đã chết); bị cáo chưa có vợ con; tiền án; tiền sự: Không; nhân tân: Năm 2016 bị Công an huyện Xuân Trường xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Năm 2018 bị TAND huyện Xuân Trường xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 06/6/2022, đến ngày 15/6/2022 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Xuân Trường; tại phiên tòa bị cáo có mặt.
-Bị hại:
- Bà Trần Thị L; sinh năm 1949-Là người đại diện hợp pháp của chùa A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Ông Trần Huy P, sinh năm 1963 - Giám đốc Trung tâm y tế huyện -Là người đại diện hợp pháp của Trung tâm y tế huyện X; vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Tô Thị H, sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt
- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Văn B; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1994; nơi cư trú xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định là đối tượng đã có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản.
Khoảng 22 giờ ngày 15/5/2022, C đi bộ từ nhà đến thị trấn Xuân Trường mục đích lợi dụng sơ hở của người dân để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đi đến Trung tâm y tế huyện X thuộc khu vực tổ 3, thị trấn Xuân Trường, C phát hiện bên trên hàng rào bảo vệ có gắn mũi tên bằng gang cùng kích thước (18x7,5)cm. Quan sát xung quanh không có người trông coi nên C đã nảy sinh ý định trộm cắp bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. C dùng tay bám vào hàng rào, tay còn lại năm mũi tên kéo từ trên xuống, từ trong ra ngoài lấy tổng số 62 mác mũi tên bằng gang. C tìm và nhặt ở vệ đường gần đố 01 vỏ bao xác rắn. C bỏ 62 mác mũi tên kim loại vào bao xác rắn rồi mang cất giấu tại đám cỏ ven đường trước cổng Trung tâm y tế huyện, sau đó đi bộ về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 16/5/2022, C nói với anh trai là Nguyễn V C chở lên thị trấn Xuân Trường có việc. C đồng ý và đi sang nhà chị Tô Thị H, sinh năm 1971 ở cùng xóm 3, xã X gặp chị Hoa, C hỏi « chị cho em mượn xe đạp đi mua thức ăn ». Sau đó C đạp xe chở C đến trước cổng Trung tâm y tế huyện X, C xuống bê bao xác rắn bên trong có 62 mác mũi tên kim loại đã trọn cắp tối hôm trước để lên gác ba ga xe đạp. C ngồi sau xe ôm bao xác rắn và bảo C chở đi thì Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường phát hiện kiểm tra, C đã bỏ chạy. C đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 01 bao xác rắn đựng tài sản trộm cắp cùng 01 xe đạp nam màu trắng- xanh.
Khoảng 23 giờ ngày 5/6/2022, Nguyễn Văn C đi bộ từ nhà mang theo một kéo kim loại đến chùa A thuộc xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định. Chính quan sát xung quanh không có người trông coi nên đã đột nhập qua cửa thông gió vào trong chùa cậy phá hòm công đức lấy 336.000đ rồi đi về nhà. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 06/6/2022. C rủ C đi mua Heronine cùng sử dụng, C đồng ý, C và C đi bộ đến khu vực tổ 1 thị trấn Xuân Trường tìm mua Heroine. Đến nơi, C lấy trong túi áo ra đưa cho C 206.000đ để mua Heroine. C cầm tiền đi tìm và gặp một người đàn ông không quen biết, không rõ tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi biết người này có Heroine bán nên Cao mua 200.000đ Heroine, người đàn ông đồng ý nhận tiền và bán cho o 01 đoạn ống nhựa nhỏ dạng ống hút màu da cam, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột dạng cụm màu trắng. C nhận đoạn ống nhựa kiểm tra và xác định bên trong là Heroine, cầm trong lòng bàn tay đi bộ quay lại chỗ C đứng chờ thì Tổ công tác Công an huyện Xuân Trường tiến hành kiểm tra, bắt quả tang (lúc này là khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/6/2022). Qúa trình bắt, C đã khai nhận toàn bộ nội dung hành vi phạm tội như trên và tự giác giao nộp 01 đoạn ống nhựa nhỏ và 6.000đ. C cũng tự giác giao nộp cho Tổ công tác số tiền 130.000đ do trộm cắp được chưa sử dụng.
Ngày 20/5/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Xuân Trường có bản kết luận định giá tài sản số 80/KLHĐĐG đối với 62 mác tên hàng rào bằng kim loại gang, tổng trọng lượng 31 kg, đã qua sử dụng tại thời đểm bị chiếm đoạt ngày 15/5/2022 có tổng giá trị là 775.000đ.
Ngày 06/6/2022, Cơ quan điều tra tiến hành khám xết khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn C tại xóm 3, xã X, huyện , tỉnh Nam Định không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan.
Tại các bản kết luận giám định số 810/GĐKTHS ngày 08/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong 01 đoạn ống nhựa nhỏ màu cam được hàn kín hai đầu, trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là ma túy. Loại ma túy Heroine. Khối lượng K: 0,134 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi của bản thân và đồng phạm như đã nêu trên.
Về trách nhiệm dân sự; Bà Trần Thị L - Là người đại diện hợp pháp của chùa An C đề nghị được nhận lại số tiền 136.000 đồng mà Cơ quan điều tra thu giữ, số tiền còn lại 200.000đ (Ch và C đã sử dụng mua ma túy hết), bà L không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Ông Trần Huy P - Là người đại diện của Trung tâm y tế huyện X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì nữa.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Trần Huy P- Giám đốc Trung tâm ý tế huyện X 62 mác mũi tên bằng gang, tổng trọng lượn 31 kg, ông P nhận và không có yêu cầu.
Cáo trạng số 68/CT-VKS, ngày 214/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố Nguyễn Văn C về tội „Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự và tội « Tàng trữ trái phép chất ma túy » theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự ;
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn C về tội „Tội trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Văn C chấp hành hình phạt từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung; Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo là người nghiện ma túy nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 810/GĐKTHS và 01 bao xác rắn.
Trả lại số 136.000đ cho bà Trần Thị L
Trả lại 01 chiếc xe đạp nam cho bà Tô Thị H. Không truy thu số tiền 200.000đ của bị cáo Nguyễn Văn C và bị cáo Nguyễn Văn C.
Các Bị cáo nhất trí với bản luận tội của VKS và không có tranh luận gì.
Trong lời nói sau cùng các bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Trường, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc kết tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai khai tại giai đoạn điều tra cũng như các tài liệu có trong hồ sơ và khẳng định: Nguyễn Văn C là đối tượng đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Trong các ngày 15/5/2022 và ngày 5/6/2022, Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn C đã có hành vi phạm tội như sau”
Khoảng 23 giờ ngày 15/5/2022, tại khu vực tổ 3, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn C đã lén lút chiếm đoạt 62 chiếc mác mũi tên bằng gang được gắn trên hàng rào bảo vệ của Trung tâm y tế huyện X có tổng trọng lượng 31 kg trị giá 775.000đ. Khoảng 23 giờ ngày 05/6/2022, Nguyễn Văn C đột nhập vào chùa A thuộc xóm 3, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định, cậy hòm công đức lấy 336.000đ. Sau đó đến khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/6/2022, Nguyễn Văn Ch đưa 200.000đ cho anh trai là Nguyễn Văn C để C đến khu vực tổ 1, thị trấn X, huyện X, tỉnh Nam Định mua 0,134 gam Heroine để sử dụng chung thì bị bắt quả tang. Như vậy, ngoài hành vi cùng Nguyễn Văn C tàng trữ trái phép chất ma túy thì Nguyễn Văn C còn trộm cắp tài sản với giá trị 1.110.000đ. Do Chính có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản chư được xóa án tích. Vì vậy, hành vi của Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự và Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Nguyễn Văn C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Các bị cáo là người nghiện ma túy nên đã thấu hiểu được tác hại của ma túy, trong đó bị cáo Chính đã từng bị xử phạt tù cũng như bị cáo Cao đã xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội điều đó thể hiện các bị cáo coi thường pháp luật nên cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sự. Trong đó bị cáo C là người khởi xướng rủ bị cáo C và đưa tiền cho C để mua ma túy cùng sử dụng nên bị cáo được xác định là vai trò đầu vụ và phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo C. Bị cáo C được bị cáo C rủ đi và là người trực tiếp cầm tiền của C để mua ma túy cùng sử dụng nên bị cáo C xếp sau và chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo C.
Đối với bị cáo C ngoài hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuy, bị cáo C còn có hành chiếm đoạt tài sản; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị án, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Để có tiền sử dụng cho ma túy nên bị cáo đã trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có năng lực hành vi nhận thức được việc làm của mình. Bị cáo có nhiều tiền án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo không lấy đó để làm bài học cho bản thân, con thường pháp luật mà tiếp phạm tội, vì vậy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Đối với hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn C bị truy tố theo tình tiết định khung hình phạt là tái phạm nguy hiểm theo điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự, bị cáo C và bị cáo C không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và răn đe đấu tranh phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, các bị cáo là người nghiện mà túy nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Trần Huy P-Giám đốc Trung tâm y tế huyện X là người đại diện hợp pháp của Trung tâm Y tế huyện X đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét là phù hợp.
Đối với bà Trần Thị L - Là người đại diện hợp pháp của chùa A yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 136.000, khoản tiền đã thu giữ của bị cáo C, hiện đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Xuân Trường. Xét thấy yêu cầu của bà L phù hợp nên HĐXX trả lại khoản tiền này cho bà L.
Về xử lý vật chứng thu giữ:
Số ma tuý đã thu giữ của các bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành cũng như 01 bao xác rắn không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với chiếc xe đạp mà bà Tô Thị H cho Nguyễn Văn C mượn, khi bà H cho C mượn chiếc xe đạp này bà H không biết C dùng làm công cụ phương tiện phạm tội, bà H không có lỗi nên trả lại 01 xe đạp cho bà H là phù hợp.
Đối với số tiền 200.000đ mà C đưa cho C để mua ma túy cùng sử dụng, số tiền này do phạm tội mà có, bà Trần Thị L không yêu cầu C và C phải bồi thường nên HĐXX không truy thu số tiền này.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo C do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo ra không có tài liệu, chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý là phù hợp.
Đối với Nguyễn Văn C có hành vi chở C và tài sản do C trộm cắp, tuy nhiên Ckhông biết tài sản mình chở là do C phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Xuân Trường đã nhắc nhở đối với C là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C.
2. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C.
-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”.
-Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữu trái phép chất ma túy.
-Xứ phạt bị cáo Nguyễn Văn C 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chấp hành là 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2022.
3. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với Nguyễn Văn C.
-Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Ca phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
-Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2022.
4. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu, cho tiêu hủy 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 810/GĐKTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định (M: 0,134 gam Heroine) và 01 bao xác rắn.
-Trả lại số tiền 136.000đ cho bà Trần Thị L.
-Trả lại 01 chiếc xe đạp nam cho bà Tô Thị H
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 93/THA và biên lai thu tiền số 0001808 cùng ngày 27/9/2022 giữa Công an huyện Xuân Trường và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
5. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Bị cáo Nguyễn Văn C, bị cáo Nguyễn Văn C mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện ; - Chi cục THADS huyện ; - Công an huyện ; - UBND xã ; - Bị cáo; -Bị hại; - NLQ; - Hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Long |