- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A Nh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A Nh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2022/HS-ST. Ngày: 11 - 8 - 2022. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Đức Khoa
Ông Quách Công Cầm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Điệp – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2022/TLST - ST ngày 22 tháng 7 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Giàng A Nh; tên gọi khác: Không, sinh năm 1957, sinh tại huyện M, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A P và bà Vàng Thị D (Đều đã chết); bị cáo có vợ là Khà Y P, sinh năm 1957 và 09 con; con lớn sinh năm 1977; con nhỏ sinh năm 1999; tiền án: Không; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 09/04/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Giàng A Nh, sinh năm 1957, trú tại: Xóm Th, xã H, huyện M, tỉnh Hòa Bình là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 07 giờ ngày 09/4/2022, Nh một mình đi bộ từ nhà đến khu vực xóm T, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình để xin ma túy cho bản thân sử dụng. Khi đến nơi, Nh gặp một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi, không quen biết đang đứng một mình ở bên đường. Nh đã hỏi và xin được của người đàn ông đó 02 gói ma túy trong đó: Gói thứ nhất được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu trắng bên trong đựng Heroine; Gói thứ hai được gói bằng mảnh nilon màu xanh bên trong đựng hỗn hợp Heroine và ma túy tổng hợp. Sau khi xin được ma túy, Nh bọc thêm bên ngoài mỗi gói ma túy một lớp giấy bạc đã bị cháy xém, rồi gói chung cả hai gói ma túy bằng mảnh giấy bạc. Sau đó Nh cất giấu gói ma túy vào trong chiếc túi vải thổ cẩm đang đeo trên người rồi đi bộ về lán nương của Nh tại khu vực bản N, xã X, huyện V. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi Nh đang đi bộ tại khu vực N thuộc bản N, xã X, huyện V thì bị tổ công tác Công an xã X kiểm tra, phát hiện và thu giữ trong túi vải thổ cẩm đang đeo trên người của Nh 01 gói ma túy có đặc điểm nêu trên; đồng thời Nh khai là gói ma túy của Nh cất giấu để sử dụng. Căn cứ vào hành vi vi phạm của Giàng A Nh, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng nghi là ma túy, tạm giữ của Nh 01 chiếc túi vải thổ cẩm có hoa văn nhiều màu sắc; đồng thời dẫn giải Giàng A Nh bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, làm rõ.
Ngày 09/4/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân huyện V và Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành cân tịnh xác định khối lượng số vật chứng nghi là ma túy thu giữ của Giàng A Nh được như sau:
- Số chất bột màu trắng nghi là Heroine được khối lượng 0,13 gam; lấy toàn bộ 0,13 gam làm mẫu giám định ký hiệu N;
- Số hỗn hợp chất bột màu trắng và màu hồng nghi là Heroine và ma túy tổng hợp được khối lượng 0,07 gam; lấy toàn bộ 0,07 gam làm mẫu giám định ký hiệu N1.
Mẫu giám định N, N1 được giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Tại kết luận giám định số 643 ngày 12/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu giám định ký hiệu N là ma túy, loại Heroine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam; Mẫu giám định ký hiệu N1 là ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,07 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,13 gam loại Heroine và 0,07 gam loại Heroine và Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Cáo trạng số: 60/CT-VKS ngày 22/07/2022 của Viện kiểm sát nhân huyện V, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A Nh về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới ảnh hưởng đến nội dung vụ án, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố Giàng A Nh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Giàng A Nh mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 21(Hai mươi mốt) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 chiếc túi vải thổ cẩm có hoa văn nhiều màu sắc.
- Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Ý kiến của bị cáo: Nhất trí với quan điểm truy tố và luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì khác.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng múc án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong qua trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản niêm phong đồ vật tài liệu bị tạm giữ, Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Lời khai của người chứng kiến, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can; cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ; thể hiện: Ngày 09/04/2022, Giàng A Nh có hành vi tàng trữ trái phép 0,13 gam Heroine và 0,07 gam hỗn hợp Heroine và Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ quy định tại Điều 4, chương II Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì tổng khối lượng các chất ma túy thu giữ của Giàng A Nh là: 0,13 gam Heroine + 0,07 gam Heroine và Methamphetamine = 0,2 gam (dưới 05 gam).
Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận bị cáo Giàng A Nh phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án tương sứng với hành vi phạm tội và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
- Bị cáo Giàng A Nh đang bị tạm giam, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy bị cáo không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 chiếc túi vải thổ cẩm có hoa văn nhiều màu sắc là những vật không còn giá trị sử dụng tuyên tịch thu tiêu hủy.
Về nguồn gốc chất ma túy: Giàng A Nh khai nhận đã xin được của một người đàn ông dân tộc Mông, khoảng 60 tuổi không quen biết tại khu vực xóm T, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Do Nh không biết tên tuổi, địa chỉ của người đó nên Cơ quan CSĐT Công an huyện V không có căn cứ điều tra làm rõ.
Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự:
2. Tuyên bố bị cáo Giàng A Nh phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Xử phạt bị cáo Giàng A Nh 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/04/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng vỏ gói niêm phong ban đầu cùng vỏ gói ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng que Test thử ma túy; 01 chiếc túi vải thổ cẩm có hoa văn nhiều màu sắc.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 82/BBVC-CCTHA ngày 25/07/2022.
4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Sở Tư pháp; - Lưu án văn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hiếu |