vanban.org

Bản án 74/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hóc Môn, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 20/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2021. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2022/HS-ST
Ngày: 20-4-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Đặng Quang Sang.

Ông Lưu Xuân Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Oanh, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mến - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn C, sinh năm 1994 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp 1, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở: 48A tổ 41, khu phố 18, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Khơ me; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V và bà Nguyễn T; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 13/9/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 13/9/2021, tại Chốt kiểm soát dịch Covid - 19 giao lộ đường Phan Văn Hớn và Quốc lộ 1A, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Tổ công tác thuộc chốt kiểm soát dịch phối hợp Công an xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn phát hiện Nguyễn C điều khiển xe máy biển số 86V1-4056 có biểu hiện nghi vấn, vi phạm quy định về phòng chống dịch Covid -19 nên tiến hành dừng xe để kiểm tra. Kết quả kiểm tra phát hiện bắt quả tang Nguyễn C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi da màu đen của C đang đeo có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (ký hiệu m), 01 điện thoại di động Nokia màu đen, 01 xe máy biển số 86V1-4056, 01 túi da màu đen, 1.000.000đ tiền Việt Nam.

Khám xét nơi ở của C tại địa chỉ 48A, tổ 41, khu phố 18, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh không phát hiện thu giữ gì.

Kết quả điều tra xác định: Nguyễn C nghiện sử dụng ma túy đá từ tháng 6 năm 2021 cho đến khi bị bắt. Nguồn ma túy C mua của những người bán dạo không rõ lai lịch gần khu vực bến xe An Sương, huyện Hóc Môn. Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 13/9/2021 do hết ma túy đá để sử dụng, C điều khiển xe máy biển số 86V1-4056 đi từ phòng trọ số 48A, tổ 41, khu phố 18, phường A, quận B đến bến xe An Sương gặp người nam (không rõ lai lịch) và mua 01 gói ma túy đá với giá 2.000.000đ rồi cất giấu trong túi da màu đen đeo trước ngực. Khi C điều khiển xe đến chốt kiểm soát dịch ở giao lộ đường Phan Văn Hớn và Quốc lộ 1A, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 gói niêm phong ghi vụ 1150/2021 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn C, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động Nokia màu đen; 01 túi da màu đen; 1.000.000đ tiền Việt Nam; 01 xe máy biển số 86V1-4056 (số khung RLCM4P8407Y009563, số máy 4P84009563).

Tại Bản kết luận giám định số 5025/KLGĐ-H ngày 20/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1315g (một phẩy một ba một năm gam) loại Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-HS ngày 21/02/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của bị cáo như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù.

- Về vật chứng của vụ án:

+ Đề nghị tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong ghi vụ 1150/2021 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn C là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 túi da màu đen.

+ Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen và số tiền 1.000.000đ tiền Việt Nam là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan hành vi phạm tội nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

+ Tiếp tục giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe máy biển số 86V1-4056 và xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào lúc 16 giờ 50 phút, ngày 13/9/2021, tại Chốt kiểm soát dịch Covid - 19 giao lộ đường Phan Văn Hớn và Quốc lộ 1A, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Nguyễn C đã bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng với tổng khối lượng là 1,1315g (một phẩy một ba một năm gam) loại Methamphetamine (theo Kết luận giám định số 5025/KLGĐ-H ngày 20/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh).

Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn C phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Bản thân bị cáo nghiện ma túy, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần có một hình phạt nghiêm khắc để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo C không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về vật chứng của vụ án:

- 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 1150/2021 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn C là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, bên trong là ma túy còn lại sau giám định và 01 (một) túi da màu đen bị cáo dùng để cất giấu ma túy. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy là phù hợp.

- 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen (đã cũ, qua sử dụng) và số tiền 1.000.000đ tiền Việt Nam là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- 01 (một) xe máy biển số 86V1-4056 (số khung RLCM4P8407Y009563, số máy 4P84009563). Tại Kết luận giám định số 6116/KLGĐ-X(Đ3) ngày 28/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận số khung và số máy không thay đổi. Chiếc xe trên do bà Lê Thị T đứng tên chủ xe. Bà T trình bày trong hồ sơ là đã bán xe trên vào năm 2017 cho cửa hàng xe máy trên đường Trần Quang Cơ, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 6.000.000đ kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe nhưng không làm giấy tờ mua bán. Bị cáo khai mua xe máy biển số 86V1-4056 của người nam tên N (không rõ lai lịch) vào đầu năm 2021 với giá 3.000.000đ nhưng không làm giấy tờ mua bán. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn tra cứu vật chứng tại Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh có kết quả không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Ngày 25/9/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn đăng báo tìm chủ sở hữu xe nhưng đến nay không có ai liên hệ. Hội đồng xét xử quyết định giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe nêu trên. Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Về nghĩa vụ chịu án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ vào Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/9/2021.

3. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi vụ 1150/2021 bên ngoài có dấu vân tay màu đỏ, chữ ký ghi tên Nguyễn C, bên trong là ma túy còn lại sau giám định; 01 (một) túi da màu đen.

- Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động Nokia màu đen (đã cũ, qua sử dụng) và số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng tiền Việt Nam.

- Giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để truy tìm chủ sở hữu hợp pháp đối với chiếc xe máy biển số 86V1-4056 (số khung RLCM4P8407Y009563, số máy 4P84009563). Nếu có người xuất trình đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh là chủ sở hữu hợp pháp thì trả lại xe cho họ. Trong trường hợp quá thời hạn 06 tháng mà không có người nào đến nhận thì tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Các vật chứng nêu trên hiện đang giữ tại kho vật chứng thuộc Chi cục thi hành án dân sự huyện Hóc Môn theo Quyết định chuyển vật chứng số 35/QĐ-VKS-HS ngày 08/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/02/2022.

4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ