- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2022/HNGĐ-ST Ngày: 31 – 8 – 2022 V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THỦY, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quí
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Trọng Tuấn
2. Bà Trần Vĩnh Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Giang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Ông Võ Long Hải – Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 134/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2022 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 399/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1984 (có mặt)
Địa chỉ: Số 154A/7, tổ 7, khu vực X, phường S, quận U, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: Khu vực P, phường W, quận U, thành phố Cần Thơ.
2. Bị đơn: Ông Võ Hoàng H, sinh năm: 1981 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số 154A/7, tổ 7, khu vực X, phường S, quận U, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền, lợi ích được bảo vệ:
Cháu Võ Như Y, sinh ngày: 13/9/2007(vắng mặt)
Địa chỉ: Số 154A/7, tổ 7, khu vực X, phường S, quận U, thành phố Cần Thơ.
Chỗ ở: Khu vực P, phường W, quận U, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà với ông Võ Hoàng H tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn ngày 28/02/2007 tại Ủy ban nhân dân phường Long Hòa, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ theo quy định của pháp luật và có với nhau 01 người con chung tên Võ Như Y, sinh ngày: 13/9/2007. Quá trình chung sống, thường phát sinh mâu thuẫn, quan điểm cuộc sống gia đình và các vấn đề khác không đồng thuận dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả; gia đình đã nhiều lần hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên bà khởi kiện và yêu cầu:
Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Võ Hoàng H;
Về con chung: Yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Võ Như Y, sinh ngày: 13/9/2007 đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết;
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Hoàng H vắng mặt.
* Người có quyền và lợi ích được bảo vệ cháu Võ Như Y có đơn xin vắng mặt và trình bày: Cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng sống với mẹ, không yêu cầu cha cấp dưỡng nuôi con. Do bận đi học nên xin vắng mặt.
Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông Võ Hoàng H; yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân theo quy định của pháp luật; xác định đúng và đầy đủ tư cách của người tham gia tố tụng; các đương sự đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Võ Hoàng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, đã được xác minh địa chỉ và nguyên nhân mâu thuẫn; cháu Võ Như Y có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đương sự.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn ông Võ Hoàng H có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật và có với nhau 01 người con chung. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn nên bà Tuyền khởi kiện được Tòa án thụ lý giải quyết theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự xét thấy giữa nguyên đơn với bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn; bị đơn vắng mặt nên không có khả năng hòa giải đoàn tụ thành. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu ly hôn cho thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ.
Về con chung: Nguyên đơn có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là phù hợp với nguyện vọng của cháu Võ Như Ý, còn bị đơn vắng mặt nên giao con chung tên Võ Như Y cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp. Dành quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Võ Hoàng H không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn ông Võ Hoàng H có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; quá trình chung sống pháp sinh mâu thuẫn, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L có đơn khởi kiện xin ly hôn được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Võ Hoàng H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, cháu Võ Như Y có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đương sự như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn ông Võ Hoàng H tự nguyện tiến đến hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống đã phát sinh mâu thuẫn, gia đình đã hòa giải đoàn tụ nhưng không thành; quá trình giải quyết vụ án, đã mở phiên hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt. Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Xét về hôn nhân phải dựa trên sự tự nguyện của các bên cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng giữa nguyên đơn với bị đơn đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu được ly hôn cho thấy tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn với bị đơn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được ly hôn với bị đơn ông Võ Hoàng H như đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ.
Về con chung: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L với bị đơn ông Võ Hoàng H có với nhau 01 người con chung tên Võ Như Ý, sinh ngày: 13/9/2007. Nguyên đơn có yêu cầu được nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con; cháu Võ Như Y có nguyện vọng được sống chung với bà Nguyễn Thị L; bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Do đó, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với nguyện vọng của cháu Võ Như Y; giao cháu Võ Như Y cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn ông Võ Hoàng H không phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Võ Hoàng H không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L. Cho bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Võ Hoàng H.
Về con chung: Giao cháu Võ Như Y, sinh ngày: 13/9/2007 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, bị đơn ông Võ Hoàng H không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung đối với bị đơn ông Võ Hoàng H không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải nôp 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002545 ngày 10/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Bình Thủy; - Chi cục THADS Q. Bình Thủy; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Nguyễn Hoàng Quí |