- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Đặng Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu ½ viên nén màu xanh lá
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2021/HS-ST Ngày: 25-6-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Kim Đó
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Thơm
Bà Đỗ Thị Ngọc Sanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Quách Thị Khuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2021, tại Hội trường A - Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 75/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 03 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Hoàng S; Tên gọi khác: Chuối; Giới tính: Nam
Sinh năm 1992 tại t nh Đ ng Nai.
Nơi cư trú: ấp 4, xã P, huyện Đ, t nh Đ ng Nai.
Nghề nghiệp: Không; Văn hoá: 07/12
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Phật.
Họ tên cha: Đặng Văn T; Sinh năm 1969.
Họ tên mẹ: Phạm Thị Kim L; Sinh năm 1970.
Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 03 anh em và chưa có vợ con.
Tiền án: 03, cụ thể:
- Ngày 24/8/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, t nh Đ ng Nai xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 101/2012/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù và hình phạt khác ngày 16/12/2012.
- Ngày 21/01/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, t nh Đ ng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 07/2015/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/9/2016.
- Ngày 28/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện D, t nh Lâm Đ ng xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Bản án số 31/2018/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2020. Chưa được xóa án tích.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện T từ ngày 30/11/2020 đến nay.
Bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đặng Hoàng S là đối tượng sử dụng ma túy đá có 03 tiền án. Vào ngày 29/11/2020, Đặng Hoàng S đi dự đám cưới của một người bạn tên Đoàn Viết Thiện G (sinh năm: 1985, trú tại: 70/1, ấp V, xã G, huyện T, Đ ng Nai) và gặp 01 người bạn tên C, (S khai là bạn quen biết ngoài xã hội, ch biết Cường ở tại huyện L, Đ ng Nai, không biết rõ nhân thân lai lịch). S khai nhận trong quá trình dự tiệc cưới S được C cho ½ viên thuốc lắc màu xanh lá cây được gói trong tờ tiền 2000 đ ng nên đã cất giấu vào túi quần sau bên trái để mang về sử dụng. Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 30/11/2020 Đặng Hoàng S đi bộ từ ấp Đ, xã G ra Quốc lộ 20 để đón xe về nhà thì bị Công an xã G kiểm tra phát hiện số ma túy Đặng Hoàng S cất giấu tại túi quần sau bên trái. Công an xã G đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Hoàng S và thu giữ: 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đ ng gói bên trong viên nén màu xanh lá nghi là ma túy, 01 điện thoại di động hiệu vertu và số tiền 195.000 đ ng.
Căn cứ kết luận giám định số 2775/KLGĐ – PC09 ngày 04/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Nai kết luận: mẫu ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1355 gam, loại: MDMA.
Quá trình điều tra, Đặng Hoàng S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Về vật chứng vụ án:
- ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong là ma túy, loại: MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,1101 gam chuyển tòa đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu vertu và số tiền 195.000 đ ng không liên quan trong vụ án, là tài sản của bị cáo Đặng Hoàng S, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất ra quyết định xử lý vật chứng số 08/QĐ ngày 18/02/2021 trả lại cho bi cáo Đặng Hoàng S.
Tại cáo trạng số 28/VKS-HS ngày 11/03/2021; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố Đặng Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đặng Hoàng S từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù.
Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong là ma túy, loại: MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,1101 gam để tiêu hủy
* Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo S biết việc làm của mình là vi phạm pháp luật xin Hội đ ng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hoàng S khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với quá trình điều tra, phù hợp với hành vi bị truy tố tại cáo trạng.
Lời khai của bị cáo S phù hợp biên bản phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có tại h sơ vụ án thể hiện
Vào lúc 02 giờ 45 phút ngày 30/11/2020, tại ấp Đ, xã G, huyện T, t nh Đ ng Nai, Đặng Hoàng S (là đối tượng có 03 tiền án chưa được xóa án tích, tái phạm nguy hiểm) đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1355 gam ma túy, loại: MDMA thì bị Công an xã G, huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Căn cứ kết luận giám định số 2775/KLGĐ – PC09 ngày 04/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an t nh Đ ng Nai kết luận: mẫu ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,1355 gam, loại: MDMA.
. Xét hành vi của bị cáo S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích tiếp tục phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố đối với bị cáo S là có căn cứ và đúng pháp luật
Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Việc tàng trữ các chất ma túy bị nghiêm cấm, người tàng trữ sẽ bị xử lý nghiêm.
Ma túy là chất độc hại người nghiện ma túy bị ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Để có ma túy sử dụng thỏa mãn cơn nghiện, ham muốn không chính đáng bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Mặt khác việc sử dụng ma túy là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức án đủ nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
* Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không.
Bị cáo có 03 tiền án chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải chịu hình phạt theo quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Vì vậy cần có mức án nghiêm tương xứng với tính chất mức độ hành vi của bị cáo gây ra.
* Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bố sung năm 2017. Cần xem xét, cân nhắc giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình, thể hiện sự khoan h ng của pháp luật.
Về vật chứng:
Áp dụng Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sư năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Tòa án tuyên tịch thu ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong là ma túy, loại: MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,1101 gam để tiêu hủy.
Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tuyên bố:
Bị cáo Đặng Hoàng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt: Bị cáo Đặng Hoàng S 05 (năm) tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2020.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Tịch thu ½ viên nén màu xanh lá được niêm phong là ma túy, loại: MDMA, khối lượng còn lại sau giám định là 0,1101 gam để tiêu hủy
(Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong phong bì niêm phong số 2775/KL-GĐ-PC ngày 07/12/2020). Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang lưu giữ theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/03/2021.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Buộc Đặng Hoàng S phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đ ng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - Tòa án ND t nh Đ ng Nai; - Viện kiểm sát ND t nh Đ ng Nai; - Viện kiểm sát ND H. Thống Nhất; - Cơ quan CSĐT CA H. Thống Nhất; - Cơ quan THA HS H. Thống Nhất - Nhà tạm giữ CA H. Thống Nhất; - Thi hành án DS H. Thống Nhất; - Lưu h sơ vụ án, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Lê Kim Đó |