- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Bá T - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 74/2021/HS-ST Ngày: 28 – 10 – 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ M’GAR, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Mẫn, bà Trần Thị Thanh Thẩm
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cư M’gar tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 71/2021/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Bá T; Tên gọi khác: Không; Sinh năm: 1993; tại: tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan T1 và bà Thân Thị T2; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Lê Đức N (Đã chết)
Đại diện gia đình bị hại: Anh Lê Đức C (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/ /2021, sau khi ăn nh u ở nhà bà Chu Thị H tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, han Bá T (đã có giấy phép lái xe hạng A1) một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát: 7H1– 11.70 lưu thông trên tuyến đường liên xã Quảng H theo hướng t y ban nhân dân xã C đến y ban nhân dân xã Q. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa ph n thôn H, xã Q, huyện C, Tình điều khiển xe mô tô chạy lấn sang phần đường bên trái (theo hướng đi c a T) 0,65m và tông trực diện vào xe mô tô biển kiểm soát 7H1–295.12 do ông Lê Đức N (Sinh năm: 1965, trú tại: thôn H, xã Q, huyện C) điều khiển theo hướng ngược lại. H u quả ông N tử vong tại ch , han Bá T bị thương nặng được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa v ng T N. Xe mô tô 47H1–411.70 và xe mô tô 7H1–295.12 bị hư h ng nặng.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 23/ /2021 và biên bản dựng lại hiện trường ngày 05/7/2021 xác định: Hiện trường xảy ra vụ tai nạn giao thông là đoạn đường hai chiều, không có vạch k đường, không có dải phân cách cố định, đoạn đường th ng, tầm nhìn không bị che khuất. Mặt đường được trải bê tông xi măng ph ng, nh n, có chiều rộng là 5,5m, có biển báo hiệu giao thông đường bộ là biển 207b, hai bên đường không có hệ thống chiếu sáng công cộng. Chọn mép đường phía bên phải theo hướng đi t y ban nhân dân xã C về hướng y ban nhân dân xã Q làm mép đường chuẩn, xác định: Điểm va chạm c a hai xe mô tô 7H1– 11.70 và xe mô tô 47H1–295.12 n m ở phần đường bên trái theo hướng đi t y ban nhân dân xã C đi y ban nhân dân xã Q. T vị trí điểm va chạm đo vào mép đường chuẩn là 3,4m.
Kết quả xét nghiệm Ethanol (nồng độ cồn) c a han Bá T tại Bệnh viện Đa khoa v ng T N ngày 23/ /2021 là 23, mmol/L máu. Quy đ i ra mg/100 ml máu là 23, x ,60 109,670 mg/100 ml máu (theo Quyết định số 933/QĐ-B T ngày 23/3/2010 c a Bộ tế).
Tại kết lu n giám định pháp y về tử thi số 19 /TTh-TT , ngày 23/5/2021 c a Trung tâm pháp y – Sở y tế Đắk Lắk kết lu n: nguyên nhân tử vong c a ông Lê Đức N là do ngưng hô hấp, tuần hoàn do chấn thương sọ não hở nặng – chấn thương hàm mặt nặng / Nhiều thương tích do tai nạn giao thông.
Tại Bản kết lu n giám định pháp y về thương tích số 97 ngày 10/ /2021 c a Trung tâm pháp y tỉnh Đắk Lắk kết lu n: T lệ t n thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại c a han Bá T là 79 .
Tại Kết lu n định giá tài sản số 67 ngày 1 / /2021 c a Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cư M gar kết lu n: Giá trị thiệt hại (chi phí sửa ch a) c a xe mô tô 47H1– 11.70 là: 19.0 0.000đồng; Giá trị thiệt hại (chi phí sửa ch a) c a xe mô tô 47H1–295.12 là: .000.000đồng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo han Bá T đã khai nh n hành vi phạm tội c a mình, ph hợp với các tài liệu và chứng cứ đã thu th p có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số: 74/CT-VKS ngày 08/10/2021 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo han Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 c a Bộ lu t Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phan Bá T khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện đúng như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Quá trình tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện C đã đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội c a bị cáo, gi nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 c a Bộ lu t Hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 5 , khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 Bộ lu t Hình sự. Xử phạt bị cáo Phan Bá T mức án t 02 năm đến 02 năm 06 tháng t , cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 0 năm đến 05 năm kể t ngày tuyên án.
Về phần trách nhiệm dân sự: Ghi nh n việc gia đình bị cáo han Bá T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Lê Đức N số tiền 75.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự.
Về xử lý v t chứng c a vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 7H1–295.12, số máy: JA32E1076674, số khung: 320 E 035 15 cho anh Lê Đức C (đại diện cho gia đình bị hại), trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 7H1– 11.70, số máy: JF63E1 56 5, số khung: 630XFZ131572 cho bị cáo han Bá T là ch sở h u hợp pháp.
Bị cáo Phan Bá T không bào ch a và tranh lu n gì, bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nh n định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục theo quy định c a Bộ lu t Tố tụng Hình sự. Bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp lu t.
Về hành vi c a bị cáo đã thực hiện: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/4/2021, sau khi ăn nh u xong ở nhà bà Chu Thị H tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk, bị cáo han Bá T đã có hành vi điều khiển xe mô tô đi trên đường liên xã Q, do bị cáo đi xe lấn sang phần đường bên trái (theo chiều đi c a bị cáo) 0,65m, đi ngược chiều và tông trực diện vào xe mô tô do ông Lê Đức N điều khiển, h u quả làm cho ông N tử vong tại ch , kết quả xét nghiệm nồng độ cồn trong máu c a bị cáo là 109,670 mg/100 ml máu. Hành vi c a bị cáo đã vi phạm quy định tại khoản Điều , khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 17 c a Lu t Giao thông đường bộ.
Tại phiên tòa bị cáo khai nh n toàn bộ hành vi phạm tội c a mình ph hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đã có đ cơ sở kết lu n, hành vi c a bị cáo Phan Bá T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 c a Bộ lu t Hình sự.
Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;
..........................................
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:
b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác”
Như v y, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Phan Bá T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 c a Bộ lu t Hình sự là có căn cứ pháp lu t, đúng người, đúng tội.
Hội đồng xét xử nh n thấy tính chất mức độ hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không nh ng đã trực tiếp xâm phạm tr t tự an toàn giao thông, trực tiếp gây ra cái chết c a bị hại ông Lê Đức N, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tr t tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đ khả năng nh n thức, bị cáo hoàn toàn biết được khi tham gia giao thông phải đi đúng phần đường, sau khi đã uống rượu bia thì không tham gia giao thông. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ hành vi phạm tội c a bị cáo mới phát huy được tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và góp phần răn đe, phòng ng a chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội c a mình, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại bãi nại, Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 c a Bộ lu t Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nh m thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo c a pháp lu t Nhà nước ta.
Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra kh i đời sống xã hội mà chấp hành biện pháp miễn chấp hành hình phạt t có điều kiện để bị cáo có cơ hội tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát c a gia đình và chính quyền địa phương là ph hợp.
Về phần trách nhiệm dân sự: Ghi nh n việc gia đình bị cáo han Bá T đã tự nguyện bồi thường cho gia đình ông Lê Đức N số tiền 75.000.000đồng. Đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về v t chứng c a vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an huyện C đã trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 7H1–295.12, số máy: JA32E107667 , số khung: 3208EY035815 cho anh Lê Đức C (đại diện cho gia đình bị hại), trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát: 7H1– 11.70, số máy: JF63E1 56 5, số khung: 630XFZ131572 cho bị cáo han Bá T là ch sở h u hợp pháp. Bị cáo Phan Bá T và anh Lê Đức C đã nh n lại các tài sản và không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp lu t.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Bá T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 c a Bộ lu t Hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1 khoản 2 khoản 5 Điều 65 c a Bộ lu t Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Phan Bá T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (Năm) năm tính t ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Bá T cho y ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Phan Bá T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đ i nơi cư trú thì thực hiện theo quy định c a pháp lu t về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ lu t tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1 ngày 30/12/2016 c a y ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Bá T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể t ngày tuyên án.
Đại diện gia đình bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể t ngày nh n được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp lu t.
| Nơi nhận: - Bị cáo; Đại diện gia đình bị hại; - VKSND huyện C; - CQCSĐT Công an huyện C; - CCTHADS huyện C; - Phòng KTNV&THAHS TAND tỉnh; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - hòng Hồ sơ - Công an tỉnh Đắk Lắk; - Vụ Giám đốc Kiểm tra I – TANDTC; - UBND xã Q; - Lưu Hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt Tuấn |