- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đức H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2021/HS-ST ngày 25/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2021/HS-PT Ngày: 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Bé
Bà Phạm Thị Thu Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Trang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 87/2021/TLPT-HS ngày 16 tháng 7 năm 2021 đối với các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 25 tháng 5 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Họ và tên: Trần Đức H, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1995 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn PV, xã Đức P, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề ngH: Lái xe; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần V (chết) và bà Lê Thị N; Vợ: Hồ Thị Thu Th; Con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Thanh T, tên gọi khác: V, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1989 tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: thôn PĐ, xã Đức H, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi; nghề ngH: Nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn L và bà Đặng Thị Hồng H; Vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 29/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt 02 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 31/8/2011.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Đức H: Ông Nguyễn Bá N – Luật sư Công ty Luật TNHH Phạm H – Chi nhánh tại Quảng Ngãi.
Địa chỉ: 56B Trần HĐ, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị cáo Lê Đức H1 không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20/11/2020, xe ô tô khách ĐC biển kiểm soát 18B-018.xx do tài xế Phạm Văn Q điều khiển đi từ Nam ra Bắc, khi đi qua địa phận tỉnh Quảng Ngãi đến cầu Sông Vệ thuộc huyện TN, tỉnh Quảng Ngãi thì xảy ra va chạm với xe mô tô hiệu Honda Winner biển kiểm soát 76G1-252.xx do Trần Đức H điều khiển đi cùng chiều, làm H và xe mô tô ngã xuống đường. Sau đó xe ô tô khách tiếp tục di chuyển theo hướng ra thành phố Q. Thấy vậy, H điều khiển xe mô tô đuổi theo xe khách để yêu cầu nhà xe xuống nói chuyện về việc làm ngã xe của H, khi đuổi theo đến đoạn trước Công an huyện TN thì đuổi kịp, H điều khiển xe mô tô đi đối đầu với xe khách nên xe khách đi lùi. Sau đó nhà xe và một số hành khách mở cửa xe đi xuống, thấy đông người nên H bỏ chạy, mọi người dắt xe mô tô của H vào lề đường rồi tiếp tục di chuyển. Lúc này, H điện thoại cho Nguyễn Thanh T và Lê Đức H1 nói H bị tai nạn giao thông. Nghe vậy thì T và H1 thuê xe taxi cùng đi vào chỗ của H. Khi gặp nhau, H nói đuổi theo xe ĐC để nói chuyện và lấy chìa khóa xe mô tô, nên cả ba lên xe taxi đuổi theo xe ô tô khách. Khi đến bến xe Quảng Ngãi thì cả ba nhìn thấy xe khách đang bỏ hàng phía trước bến xe, nên cả ba xuống xe taxi đi đến nói chuyện với nhà xe, nhưng thấy có người trên xe khách bước xuống và tiến về phía mình nên cả ba cùng đi đến đống phế liệu bên đường lượm 03 tuýp sắt dài khoảng 60-120cm, rồi cùng đến đập phá xe ô tô khách 18B-018.xx. Hậu quả làm bể hoàn toàn 02 cụm gương chiếu hậu, 01 kính chắn gió bên phía tài xế, 01 kính chắn gió cửa lên xuống bên phải; 01 kính phía sau của xe ô tô, rồi cả ba lên xe taxi bỏ đi.
Ngày 05/12/2020 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Q định giá:
- Toàn bộ 02 kính chiếu hậu phía trước đầu xe ô tô khách ĐC, biển số 18B-018.xx. Tài sản bị hư hỏng, trị giá 30.000.000 đồng.
- Kính chắn gió cửa lên xuống 2 lớp bên phải xe ô tô khách ĐC, biển số 18B-018.xx. Tài sản bị hư hỏng, trị giá 3.600.000 đồng.
- Kính chắn gió chữ L 2 lớp ô tài xế của xe ô tô khách ĐC, biển số 18B-018.xx. Tài sản bị hư hỏng, trị giá 3.600.000 đồng
- Kính lên xuống ô tài xế của xe ô tô khách ĐC, biển số 18B-018.xx. Tài sản bị hư hỏng, trị giá 700.000 đồng
- Kính chắn gió đuôi xe ô tô khách ĐC, biển số 18B-018.xx. Tài sản bị hư hỏng, trị giá 2.570.000 đồng.
Tổng cộng: 40.470.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 25/5/2021, Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi quyết định:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 178, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Khoản 1 Điều 178, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Lê Đức H1 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”; tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 07/6/2021, bị cáo Trần Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Ngày 09/6/2021, bị cáo Nguyễn Thanh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với bị cáo Trần Đức H, bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và có khả năng tự cải tạo; đối với bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 năm tù, bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2021/HS-ST ngày 25/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Xử phạt bị cáo Trần Đức H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 09 đến 12 tháng tù.
Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Trần Đức H tại phiên tòa: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Đức H về tội “Hủy hoại tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo xuất phát từ việc xe ĐC va chạm với bị cáo làm bị cáo ngã, bị cáo chặn xe lại để nói chuyện nhưng nhà xe cho rằng bị cáo ăn vạ, hành hung bị cáo làm bị cáo bỏ chạy, nhà xe lấy chìa khóa xe của bị cáo bỏ đi. Mục đích các bị cáo đuổi theo xe khách là để lấy chìa khóa xe và khi đi các bị cáo cũng không mang theo hung khí gì, nhưng khi đuổi kịp, nhà xe không trả chìa khóa cho bị cáo mà đe dọa các bị cáo, nên bị cáo mới bức xúc có hành vi đập phá xe ô tô khách, vì vậy phía bị hại cũng có một phần lỗi. Ngoài ra, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường xong cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo Trần Đức H được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét hành vi của các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T thấy rằng: Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 20/11/2020, tại khu vực trước bến xe Quảng Ngãi, thuộc thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Do va chạm với xe ô tô khách biển kiểm soát 18B-018.xx nhưng không được giải quyết theo yêu cầu, nên bị cáo Trần Đức H đã điện thoại cho các bị cáo Nguyễn Thanh T, Lê Đức H1 đuổi theo xe ô tô khách và dùng tuýp sắt đập phá xe ô tô, hậu quả làm hư hỏng một số cửa kính và kính chiếu hậu của xe ô tô. Tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là 40.470.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi phạm tội, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho người bị hại; gia đình các bị cáo khó khăn. Riêng bị cáo Trần Đức H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Nguyễn Thanh T gia đình có công cách mạng. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo ít nghiêm trọng, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Đức H 02 năm tù, bị cáo Nguyễn Thanh T 01 năm 06 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Q.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Đề nghị của người bào chữa được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần.
Các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có H lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 36/2021/HS-ST ngày 25/5/2021 của Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Đức H 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (Một) năm tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
2. Về án phí: Các bị cáo Trần Đức H, Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có H lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có H lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Công an TP Quảng Ngãi (02 bản); - TAND TP Quảng Ngãi (02 bản); - VKSND, THADS TP Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Người TGTT khác; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Năm |