vanban.org

Bản án 74/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bến Tre Tuyên án 16/09/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/09/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉ…

Xử phạt bị cáo Cao Thanh H 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhưng được trừ vào thời hạn tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020), thời hạn còn lại phải chấp hành là 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù; Xử phạt… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thanh H - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉ…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74 /2021/HS-PT
Ngày 16-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Văn Thông

Các Thẩm phán: Ông Bùi Quang Sơn

Ông Nguyễn Thế Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Sương - Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2021/TLPT-HS ngày 18 tháng 8 năm 2021 đối với các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Bến Tre.

Các bị cáo có kháng cáo:

1. Cao Thanh H , sinh năm 1992 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp Q , xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Thanh B và bà Nguyễn Thị Kim L; vợ: Lê Thị Thùy L; con: có 01 người con sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 02353/QĐ-XPHC ngày 08/9/2020 của Công an thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 4.000.000 đồng về hành vi điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h (đã nộp phạt xong ngày 08/9/2020); nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 002173/QĐ-XPHC ngày 11/06/2019 của Công an xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi đá gà được thua bằng tiền (đã nộp phạt xong ngày 27/6/2019); bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020, sau đó bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo tại ngoại; có mặt;

2. Lê Khánh D , sinh năm 1990 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp Q , xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Kh và bà Nguyễn Thị Ph; vợ: Nguyễn Thị Mỹ U; con: có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự. Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 249/QĐ-XPHC ngày 20/3/2020 của Công an huyện C , tỉnh Long An xử phạt số tiền 4.000.000 đồng về hành vi điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h (đã nộp phạt xong ngày 15/6/2020); nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 000866/QĐ-XPHC ngày 29/01/2018 của Công an xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức chơi tài xỉu được thua bằng tiền (đã nộp phạt xong ngày 01/4/2018); bị bắt tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020, sau đó bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đến nay; bị cáo tại ngoại, có mặt;

3. Cao Hồng S , sinh năm 1982 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: ấp QA, xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Mộng V (chết) và bà Nguyễn Thị T; vợ: Phan Thị Ngọc H; con: có 01 người con sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 00362/QĐ-XPHC ngày 04/9/2019 của Công an huyện C , tỉnh Bến Tre xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép bằng hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền (đã nộp phạt xong ngày 09/9/2019); bị cáo tại ngoại, có mặt;

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Khánh D : Bà Nguyễn Thị M là Luật sư - Chi nhánh Bến Tre Công ty luật trách nhiệm hữu hạn DC COUNSEL; có mặt.

(Ngoài ra; trong vụ án còn có các bị cáo Nguyễn Phan Long Tr , Trần Thanh T , Lê Hữu Ng , Trần Văn L , Trần Văn T , Dương Quốc Th và Trần Văn Ch nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 16/12/2020; Nguyễn Phan Long Tr cùng Dương Quốc Th đến chòi lá của ông Phạm Văn D ở xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre để chơi đánh bạc. Tại đây, Tr lấy ra số tiền 10.000.000 đồng để làm vốn và trực tiếp lắc tài - xỉu để ăn thua bằng tiền với Lê Hữu Ng , Lê Khánh D , Cao Thanh H , Trần Thanh T , Trần Văn T , Trần Văn L , Trần Văn C , Cao Hồng S và Dương Quốc Th , tiền cược mỗi ván từ 100.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Chơi được khoảng 30 phút thì bị lực lượng Công an bắt quả tang.

- Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm:

+ 01 bộ dụng cụ lắc tài xỉu gồm: 03 hột xí ngầu, 01 hủ nhựa hình trụ tròn màu xanh bên ngoài có dán băng keo màu đen;

+ 01 đĩa sứ màu trắng;

+ 01 miếng gạch men hình chữ nhật màu vàng trắng;

+ 01 tấm nhựa màu xanh ở giữa có dán băng keo bên cạnh là hình chữ “T” được dán băng keo màu đen;

+ Số tiền 22.800.000 đồng;

- Tạm giữ trên người của Nguyễn Phan Long Tr số tiền 41.000.000 đồng;

- Tạm giữ trên người của Trần Thanh T số tiền 20.400.000 đồng; 01 điện thoại Iphone X màu vàng;

- Tạm giữ trên người của Lê Hữu Ng số tiền 7.700.000 đồng; 01 điện thoại Iphone X màu trắng;

- Tạm giữ trên người của Lê Khánh D 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6s màu vàng; 01 điện thoại nhãn hiệu Realme màu đỏ; 06 hột xí ngầu đựng trong túi nhựa màu trắng;

- Tạm giữ trên người của Cao Thanh H số tiền 2.210.000 đồng; 01 điện thoại di động Iphone 6 màu bạc;

- Tạm giữ trên người của Trần Tuấn V 01 điện thoại di động Nokia 105, màu đen, loại bàn phím; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7, màu đỏ; số tiền 1.400.000 đồng;

- Ngoài ra, tại khu vực đánh bạc còn thu giữ thêm 08 xe mô tô các loại mang các biển kiểm soát: x.

Quá trình điều tra, các đối tượng khai nhận:

- Nguyễn Phan Long Tr tham gia đánh bạc với vai trò làm cái. Tại thời điểm Công an bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 22.800.000 đồng. Trong đó; 10.000.000 đồng là tiền vốn, 12.800.000 đồng là tiền thắng bạc.

- Trần Thanh T tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc T lấy ra số tiền 5.000.000 đồng làm vốn và thắng bạc được số tiền 1.000.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang thu giữ trên người T số tiền 20.400.000 đồng, trong đó có 6.000.000 đồng tiền dùng vào việc đánh bạc.

- Lê Hữu Ng tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc Ng lấy ra số tiền 5.000.000 đồng làm vốn và thắng bạc 2.500.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang thu giữ trên người Ng số tiền 7.700.000 đồng, trong đó có 7.500.000 đồng là tiền dùng vào việc đánh bạc.

- Cao Thanh H tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc H lấy ra số tiền 2.000.000 đồng làm vốn, H thua bạc 700.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang thu giữ trên người H số tiền 2.210.000 đồng, trong đó có 1.300.000 đồng tiền dùng vào việc đánh bạc.

- Lê Khánh D tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc D lấy ra số tiền 500.000 đồng làm vốn, thời điểm Công an bắt quả tang D vừa thua bạc hết.

- Trần Văn L tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc L lấy ra số tiền 1.000.000 đồng làm vốn, L đã thua bạc số tiền 400.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang L cầm tiền bỏ chạy khỏi hiện trường. Hiện L đã giao nộp 600.000 đồng.

- Trần Văn T tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc T lấy ra số tiền 1.000.000 đồng làm vốn, đã thua bạc số tiền 500.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang T cầm tiền bỏ chạy khỏi hiện trường. Hiện T đã giao nộp 500.000 đồng.

- Dương Quốc Th tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc T lấy ra số tiền 500.000 đồng làm vốn, T thắng bạc số tiền 200.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang T cầm tiền bỏ chạy khỏi hiện trường. Hiện T đã giao nộp 700.000 đồng.

- Trần Văn Ch tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc C lấy ra số tiền 50.000 đồng làm vốn đánh bạc, C thắng bạc số tiền 100.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang C cầm tiền bỏ chạy khỏi hiện trường. Hiện C đã giao nộp 150.000 đồng.

- Cao Hồng S tham gia đánh bạc với vai trò người chơi. Khi tham gia đánh bạc S lấy ra số tiền 200.000 đồng làm vốn, S thua bạc số tiền 100.000 đồng. Tại thời điểm Công an bắt quả tang S cầm tiền bỏ chạy khỏi hiện trường. Hiện S đã giao nộp 100.000 đồng.

Như vậy; tổng số tiền mà Nguyễn Phan Long Tr , Trần Thanh T , Lê Hữu Ng , Cao Thanh H , Lê Khánh D , Trần Văn L , Trần Văn T , Dương Quốc Th , Trần Văn Ch và Cao Hồng S đã đưa vào đánh bạc là: 39.650.000 đồng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Bến Tre đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S phạm “Tội đánh bạc”;

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Xử phạt bị cáo Cao Thanh H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ thời hạn bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020;

- Xử phạt bị cáo Lê Khánh D 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ thời hạn bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020;

- Xử phạt bị cáo Cao Hồng S 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù;

Ngoài ra; Bản án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng đối với mỗi bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S ; phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Phan Long Tr , Trần Thanh T , Lê Hữu Ng , Trần Văn L , Dương Quốc Th , Trần Văn T và Trần Văn C ; phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm;

- Ngày 02/7/2021, bị cáo Cao Hồng S kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo hưởng án treo;

- Ngày 13/7/2021, bị cáo Cao Thanh H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo;

- Ngày 12/7/2021, bị cáo Lê Khánh D kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ;

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Bản án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên thể hiện như sau: đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định. Về tội danh; Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S phạm “Tội đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Về hình phạt chính; Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Cao Thanh H 06 tháng tù, bị cáo Lê Khánh D 06 tháng tù và bị cáo Cao Hồng S 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, vì vậy kháng cáo về hình phạt chính của các bị cáo không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Cao Thanh H 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020; xử phạt bị cáo Lê Khánh D 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nhưng được trừ thời hạn bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020; xử phạt bị cáo Cao Hồng S 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

- Các bị cáo không tranh luận.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Khánh D phát biểu tranh luận: bị cáo D có hành vi đánh bạc trái phép vào năm 2018, đến khi phạm tội đánh bạc vào ngày 16/12/2020 đã trên 02 năm, vì vậy được xem bị cáo D có nhân thân tốt. Bị cáo D bị truy tố, xét xử về “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội nên không tranh luận về tội danh. Bị cáo D phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, chỉ là đồng phạm giản đơn, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có con dưới 18 tuổi, có ông ngoại được công nhận là liệt sĩ, có bà nội 72 tuổi bị bệnh viêm khớp đi lại khó khăn đang do bị cáo cấp dưỡng, có 02 con nhỏ trong đó có 01 con bị bệnh động kinh, có mẹ bị bệnh tim, là trụ cột chính trong gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo D.

- Bị cáo S không nói lời sau cùng.

- Bị cáo H nói lời sau cùng: xin được hưởng án treo để nuôi con nhỏ.

- Bị cáo D nói lời sau cùng: xin được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ để chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong thời hạn kháng cáo phù hợp với quy định tại Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa phúc thẩm; các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm kết hợp với các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, có cơ sở xác định: vào khoảng 17 giờ ngày 16/12/2020, tại chòi lá của ông Phạm Văn D ở ấp QA, xã Q S , huyện C , tỉnh Bến Tre, Công an xã Q S đã phát hiện bắt quả tang đối với Nguyễn Phan Long Tr , Trần Thanh T , Lê Hữu Ng , Cao Thanh H , Lê Khánh D , Trần Văn L , Trần Văn T , Dương Quốc Th , Trần Văn Ch và Cao Hồng S đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc tài - xỉu ăn thua bằng tiền với tổng số tiền các bị cáo đưa vào đánh bạc là: 39.650.000 đồng.

Về tội danh: các bị cáo là người thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự; vì động cơ tư lợi, mục đích thu lợi bất chính đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc tài - xỉu được thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo đưa vào đánh bạc là 39.650.000 đồng; các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý; hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng xã hội. Với ý thức, hành vi và tổng số tiền đưa vào đánh bạc trái phép, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S phạm “Tội đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Xét kháng cáo của các bị cáo Cao Thanh H và Cao Hồng S yêu cầu được hưởng án treo, bị cáo Lê Khánh D yêu cầu được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, thấy rằng:

Khi áp dụng hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo như: các bị cáo có nhân thân không tốt, tuy nhiên các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo có con dưới 18 tuổi; riêng bị cáo Sang có cha ruột là thương binh hạng 3/4, có mẹ ruột là thương binh hạng 4/4 nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đã xử phạt bị cáo Hải 06 tháng tù, bị cáo D 06 tháng tù và bị cáo Sang 06 tháng tù;

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy: vì động cơ tư lợi, mục đích thu lợi bất chính mà các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc tài xỉu được thua bằng tiền, tổng số tiền các bị cáo đưa vào đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 50.000.000 đồng, hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến trật tự công cộng xã hội mà còn gây khó khăn về kinh tế cho chính bản thân và gia đình người đánh bạc, là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo H và bị cáo D đều có tiền sự vì bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm Luật Giao thông đường bộ, điều đó chứng tỏ bị cáo H và bị cáo D có nhân thân không tốt; ngoài ra về nhân thân bị cáo H và bị cáo D cũng từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép; bị cáo S về nhân thân cũng từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép; điều đó cho thấy các bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật không cao, khó cải tạo để trở thành người tốt. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ về nhân thân và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tại cấp phúc thẩm bị cáo D cung cấp tình tiết có ông ngoại là liệt sĩ, có bà nội già yếu, mất sức lao động, có mẹ bị bệnh tăng huyết áp, viêm dạ dày, đau ngực, có con tên Lê Bảo L - sinh năm 2010 bị bệnh động kinh vào năm 2016 để yêu cầu được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, có điều kiện chăm sóc gia đình; riêng bị cáo H và bị cáo S không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Tuy nhiên; xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt mỗi bị cáo 06 tháng tù theo mức khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả do các bị cáo gây ra. Xét thấy quyết định của Bản án sơ thẩm về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt đối với các bị cáo có căn cứ và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không có căn cứ để thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt cho các bị cáo nên không chấp nhận kháng cáo yêu cầu được hưởng án treo và được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ của các bị cáo; giữ nguyên Bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.

Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Khánh D đề nghị chấp nhận kháng cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo D là chưa tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo nên không được chấp nhận.

Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự: căn cứ vào điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S ; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 36/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện C , tỉnh Bến Tre.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

- Xử phạt bị cáo Cao Thanh H 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhưng được trừ vào thời hạn tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020), thời hạn còn lại phải chấp hành là 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù;

- Xử phạt bị cáo Lê Khánh D 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”, nhưng được trừ vào thời hạn tạm giữ 06 (sáu) ngày (từ ngày 16/12/2020 đến ngày 22/12/2020), thời hạn còn lại phải chấp hành là 05 (năm) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù;

- Xử phạt bị cáo Cao Hồng S 06 (sáu) tháng tù về “Tội đánh bạc”; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù.

2. Về án phí: căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Bị cáo Cao Thanh H phải nộp: 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

- Bị cáo Lê Khánh D phải nộp: 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

- Bị cáo Cao Hồng S phải nộp: 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về hình phạt bổ sung bằng tiền 10.000.000 đồng đối với mỗi bị cáo Cao Thanh H , Lê Khánh D và Cao Hồng S , phần trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Phan Long Tr , Trần Thanh T , Lê Hữu Ng , Trần Văn L , Dương Quốc Th , Trần Văn T và Trần Văn C , phần xử lý vật chứng và án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ