- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Mạnh C phạm tội Chứa mại dâm - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HSST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Căn cứ chính? Điều 327 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2020/HSPT Ngày 29/7/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Yển.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Chất và bà Nguyễn Thị Thu Hoài.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2020/TLPT-HS ngày 01 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C, do có kháng cáo của bị cáo, kháng nghị của VKSND huyện K đối với bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HSST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị:
Nguyễn Ma ̣nh C, sinh năm 1977 tại huyện K, tỉnh Hải Dương ; nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyê ̣n K, tỉnh Hải Dương; nghề nghiê ̣p: Lao đô ̣ng tự do; trình đô ̣ văn hóa : 5/12; dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: Nam; tôn giáo : Không; quốc tịch:
́
Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đa chết) và bà Nhữ
̃ Thi ̣ M ; vợ Nguyễn Thi ̣ H (đa ly hôn) và có 3 con; tiền ã
́n: Tại bản án số 44/2017/HSST ngày 13/7/2017, Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Mạnh C 30 tháng tù về tô ̣i "Mua bán trái phép chất ma túy ", ngày 18/5/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 45/2007/HSST ngày 21/12/2007, Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Mạnh C 06 năm tù về tô ̣i "Chứ a ma ̣i dâm", được đă ̣c xá năm 2010; bị xử phạt hành chính theo Quyết đi ̣nh xử pha ̣t vi pha ̣m hành chinh số 72/QĐ-XPHC ngày 17/6/2013
́
của Công an huyện L, tỉnh Hải Dương. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Ma ̣nh C mở quán cà phê "C" tại thôn D, xã Đ, huyê ̣n K, tỉnh Hải Dương. C thuê hai nhân viên nữ là Trương Thi ̣ B và Tăng Thị Đ phục vụ tại quán. Quá trình làm việc hai nhân viên đã bàn bạc với C về viê ̣c hai nhân viên bán dâm tại quán và C sẽ được hưởng lợi 50% số tiền thu được từ mỗi lần bán dâm, C đồng ý . Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, C cùng với Nguyễn Văn S là bạn của C cùng với B và Đ ngồi uống nước tại quán thì có anh Nguyễn Văn D (tên tự khai lúc bắt ) và anh Nguyễn Đức L đến quán và đi đến chỗ B và Đ ngồi và hỏi "Có đi nhanh không" (ý hiểu có bán dâm không ), B và Đ đồng ý. B nói "Ba trăm nghin đồng mô ̣t ngườ i" (ý hiểu bán dâm với giá 300.000đ mô ̣t
̀ ngườ i). L đồng ý và đưa cho B nhâ ̣n số tiền 700.000đ (gồm 01 tờ tiền polime mê ̣nh giá 500.000đ và 01 tờ tiền polime mê ̣nh giá 200.000đ, trong đó tiền mua dâm đối vớ i hai ngườ i là 600.000đ và tiền bo là 100.000đ). Lúc đó C ngồi uống nướ c gần đó biết , nhưng đồng ý để cho B, Đ và anh L tự thỏa thuâ ̣n mua dâm . Sau đó B đưa anh L vào gian phòng thứ nhất, Đ đưa D vào gian phòng thứ hai bên trong quán để mua bán dâm. Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày khi B và Đ đang thực hiê ̣n hành vi bán dâm thi bi ̣ Công an huyê ̣n K kiểm tra, phát hiện và
̀
lâ ̣p biên bản vu ̣ viê ̣c, thu giữ 02 bao cao su; 02 vỏ bao cao su đã qua sử du ̣ng và số tiền 700.000đ tiền bán dâm do B đa tự̃ nguyê ̣n giao nô ̣p.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HSST ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân huyện K đã căn cứ vào khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí toà án; Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 21 tháng tù về tội "Chứa mại dâm", thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của bị cáo.
Ngày 19/5/2020,VKSND huyện K có Quyết định kháng nghị số 01/QĐ-VKS nội dung: Bị cáo C đã sử dụng 02 gian phòng tại quán cà phê “C” thực hiện hành vi chứa mại dâm đối với 02 người bán dâm là Trương Thị B, Tăng Thị Đ và 02 người mua dâm là Vương Đức L, Nguyễn Đình D. Theo Mục 3 Điều 3 Pháp lệnh phòng chống mại dâm ngày 17/3/2003 của UBTVQH quy định: “Mại dâm là hành vi mua dâm, bán dâm”, nên hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Chứa mại dâm với 4 người trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HSST ngày 05/5/2020, Tòa án nhân dân huyện K đã xử bị cáo tội Chứa mại dâm theo khoản 1 Điều 327 BLHS là vi phạm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật, xử phạt bị cáo 21 tháng tù là quá nhẹ, không đúng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, áp dụng điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS, tăng hình phạt đối với bị cáo C.
Ngày 20/5/2020, bị cáo Nguyễn Mạnh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa bị cáo có đơn đề nghị xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút kháng cáo đề ngày 28/7/2020.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định kháng nghị, sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án, xác định cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Chứa mại dâm là đúng. Tuy nhiên, xác định hành vi của bị cáo thuộc trường hợp “Chứa mại dâm với 4 người trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS, nên đề nghị HĐXX căn cứ Điều 348, điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo; Chấp nhận kháng nghị của VKSND huyện K, sửa án sơ thẩm, căn cứ điểm d khoản 2 Điều 327, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt bị cáo C từ 05 năm 6 tháng đến 6 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C và kháng nghị của VKSND huyện K trong thời hạn luật định nên là kháng cáo, kháng nghị hợp lệ.
Bị cáo Nguyễn Mạnh C tự nguyện rút kháng cáo, nên HĐXX đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo C.
Xét kháng nghị của VKSND huyện K về điều khoản áp dụng và tăng hình phạt đối với bị cáo thấy rằng:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của những người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, Nguyễn Ma ̣nh C có hành vi sử dụng 02 gian phòng ta ̣i quán cà phê "C" do C quản lý tại thôn D, xã Đ, huyê ̣n K, tỉnh Hải Dương để cho Trương Thị B bán dâm cho Vương Đức L tại phòng thứ nhất và Tăng Thị Đ bán dâm cho nam thanh niên tự khai tên Nguyễn Đinh D tại phòng thứ hai với số tiền là 700.000đ (C được hưở ng 50%
̀ số tiền bán dâm trên). Đến khoảng 21 giờ 15 phút cùng ngày khi hai đôi nam nữ đang thực hiê ̣n hành vi mua bán dâm thì bị Công an huyện K kiểm tra, phát hiện và lập biên bản vụ việc, thu giữ vật chứng.
Bị cáo Nguyễn Mạnh C là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng 02 gian phòng của quán cà phê tại nhà ở của mình, để 02 người bán dâm là Trương Thị B, Tăng Thị Đ và 02 người mua dâm là Vương Đức L và Nguyễn Đình D thực hiện hành vi mua, bán dâm là hành vi trái pháp luật hình sự, song vì mục đích vụ lợi nên bị cáo đã cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Chứa mại dâm" quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.
Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K đề nghị áp dụng tình tiết định khung “chứa mại dâm 04 người trở lên” bao gồm cả người bán dâm và người mua dâm, HĐXX thấy rằng: Theo từ điển tiếng việt thì khái niệm “ mại” là “ bán”, “mãi” là “mua” và “Chứa mại dâm” là “Chứa bán dâm”. Như vậy tình tiết định khung tăng nặng “Chứa mại dâm 04 người trở lên’’ quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự được hiểu là đối với người bán dâm. Do đó, trong cùng khoảng thời gian 20 giờ 30 phút ngày 23/12/2019, tại quán cà phê của bị cáo Nguyễn Mạnh C, bị cáo đã đồng ý để cho hai người là Trương Thị B, Tăng Thị Đ bán dâm cho cho hai người mua dâm là Vương Đức L và Nguyễn Đình D, xác định là 2 người bán dâm, nên Tòa án nhân dân huyện K xét xử bị cáo theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 327 BLHS của Viện kiểm sát.
Về mức hình phạt: Bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội chứa mại dâm và xử phạt hành vi vi phạm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có tiền án tại bản án số 44/2017/HS-ST ngày 13/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện S xử phạt 30 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy", ngày 18/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù, tính đế ngày 23/12/2019 bị cáo phạm tội chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Tái phạm" quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; có bố đẻ là thương binh và được tặng thưởng huân huy chương nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.
Cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, đánh giá nhân thân, xử phạt bị cáo C 21 tháng tù giam là tương xứng, phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không có tình tiết nào mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt của VKSND huyện K.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mạnh C rút kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ Điều 348, điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Mạnh C. Không chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện K; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 29/2020/HSST ngày 05/5/2020 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương.
2. Điều luật áp dụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 327, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;
3.Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 21( Hai mươi mốt) tháng tù về tội "Chứa mại dâm", thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.
4. Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí toà án; bị cáo Nguyễn Mạnh C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 29/7/2020./. N¬i nhËn:
| - VKSND tỉnh Hải Dương; - Sở Tư pháp tỉnh HD; - Phòng HSNV-CA tỉnh HD; - TAND huyện K; - CQCSĐT, CQTHAHS-CA huyện K; - VKSND huyện K; - Chi côc THADS huyện K; - Bị c¸o; -Lưu Tòa; lưu hå s¬. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ (đã ký) Vũ Thị Yển |