vanban.org

Bản án 74/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Cà Văn X ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử ph t: Cà Văn X 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 22/4/2020. Vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ca Van X - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Cà Văn X ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 74/2020/HS-ST
Ngày: 24-8- 2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Thành Vân.

2. Vì Văn Đôi.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng, thư ký Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Quân – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2020, t i Tr s Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 79/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 81/ 2020/QĐXXST-HS ngày 13/8/2020, đối với bị cáo:

Cà Văn X, sinh năm 1960. Nơi cư trú: Bản L, xã Chiềng K, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 02/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Cà Văn T (đã chết) và con bà: Cà Thị O (đã chết); có vợ: Tòng Thị B và có 05 người con, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2002; tiền án; tiền sự: Không; bị bắt t m giữ, t m giam từ ngày 06/4/2020 cho đến nay. Có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên toà, nội dung v án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 50 phút ngày 22/4/2020, tổ công tác Công an xã Chiềng K, Sông Mã phối hợp với Phòng PC 04 Công an tỉnh Sơn La làm nhiệm v t i bản Tiên Sơn, Chiềng Khương, Sông Mã phát hiện Cầm Văn Q SN 1981 trú t i bản Ta T, Chiềng C đang điều khiển xe mô tô BKS 26B1-972.08 ch theo sau Cầm Văn X. Qua kiểm tra, X đã tự lấy ra từ trong miệng 01 gói nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột liên kết màu trắng ngà (X khai nhận là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn t m giữ của X 01 điện tho i di động hiệu OPPO; t m giữ của Q 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26B1-972.08 số khung 040057, số máy 0133853 và 01 điện tho i di động hiệu FPT.

Ngày 23/4/2020 t i Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tiến hành m niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định kết quả: Cân tịnh chất bột màu trắng thu giữ của X có khối lượng là 2,50gam, đã trích 0,50gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu X1. Vật chứng còn l i 2,00gam ký hiệu X.

Kết luận giám định số 676 ngày 30/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu X1 là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,50gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 2,50gam; loại Heroine”.

Quá trình điều tra xác định được như sau:

Cà Văn X sử d ng ma túy từ năm 2018. Khoảng 12 giờ ngày 22/4/2020 X đang nhà một mình t i bản L, Chiềng K thì có một người ph nữ quốc tịch Lào điều khiển xe mô tô đến nhà Xong bán hàng rong. Gặp X, qua nói chuyện người ph nữ nói có 01 gói Heroine muốn bán với giá 1.000.000VNĐ nên X đã đồng ý mua. Mua bán xong, người ph nữ điều khiển xe đi, còn X cất giấu gói ma túy vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi nhà. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, X đang nhà một mình thì có Cầm Văn Q SN 1981 trú t i bản Ta T ng, Chiềng Cang đến lấy tiền công ghép nhãn nhưng X chưa có tiền trả. Qua nói chuyện, Q hỏi xin X nếu có ma túy thì cho một ít sử d ng nên X đồng ý, rồi nói Q ra ngoài vườn nhãn chờ, còn X trong nhà lấy gói ma túy mua được ra trích một ít vào mảnh giấy b c, số còn l i X cất vào túi quần đang mặc rồi cầm mảnh giấy b c có ma túy mang ra ngoài vườn nơi Q đợi rồi cả hai cùng sử d ng bằng hình thức đốt hít qua đường hô hấp. Sử d ng ma túy xong, Quý nói về 03 con dê của gia đình X gửi cho gia đình Quý nuôi trước đó đã có 01 con đẻ được 02 con nhỏ nên Q bảo X đến xem dê nên X đồng ý. Q điều khiển xe mô tô ch theo X đi về nhà Q, trên đường đi được khoảng 200m X lấy gói ma túy từ túi quần bên trái đang mặc cho vào trong miệng ngậm nhằm tránh sự kiểm tra của lực lượng chức năng. Khi đến khu vực bản Tiên Sơn, Chiềng Khương, Sông Mã, X và Q bị tổ công tác Công an huyện Sông Mã và Phòng PC 04 Công an tỉnh Sơn La làm nhiệm v kiểm tra, qua kiểm tra X lấy từ trong khoang miệng ra giao nộp cho tổ công tác gói ma túy, tổ công tác đã lập biên bản bắt người ph m tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, t m giữ đồ vật và phương tiện nêu trên.

Cáo tr ng số: 77/CT-VKSSM ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, truy tố Cà Văn Xong về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

T i phiên toà, Kiểm Sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Ph t bị cáo từ 32 đến 38 tháng tù. Xét hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình ph t bổ sung cho bị cáo; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, sau khi được nói lời sau cùng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ t c quy định của Bộ luật tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và t i phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về xác định tội danh:

- Ngày 22/4/2020 bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi cất giấu trái phép ma tuý, tang vật thu giữ được theo kết luận giám định là chất ma tuý, lo i Heroine có khối lượng 2,50gam.

- T i phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi của mình; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai t i cơ quan Điều tra; phù hợp với nội dung, tội danh bản Cáo tr ng; lời khai nhận của bị cáo cũng phù hợp với biên bản ph m tội quả tang cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ v án. T i phiên tòa không phát sinh tình tiết mới. Như vậy, Hội đồng xét xử có cơ s để kết luận: Cà Văn Xong đã ph m tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, kh i tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội ph m của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi ph m tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội; xâm ph m sự quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy; gây mất trật tự trị an t i địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng, t i cơ quan Điều tra và t i phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên sẽ được hư ng 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

5] Về vấn đề khác liên quan:

- Đối với người ph nữ dân tộc Lào bị cáo khai đã bán ma tuý cho bị cáo, do không biết họ tên, địa chỉ c thể nên cơ quan Điều tra không có cơ s để điều tra, m rộng v án là có căn cứ, cần chấp nhận.

- Đối với Cầm Văn Q khi điều khiển xe mô tô ch X, Q không biết việc Xong có cất giấu ma túy và X cũng không nói cho Q biết nên không có căn cứ để xử lý Quý là đồng ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi sử d ng trái phép chất ma túy của Q. Hiên hiện nay Q đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã kh i tố, t m giam v án Hình sự khác.

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α BKS 26B1-972.08 số khung 040057, số máy 0133853 quá trình điều tra xác minh, đã xác định được xe đăng ký mang tên Cầm Văn Q. Việc Q điều khiển xe mô tô ch X nhưng không biết việc X cất giấu ma túy trong người. Kết quả tra cứu dữ liệu xe vật chứng của Công an tỉnh Sơn La xe không có trong cơ s dữ liệu xe vật chứng. Xét thấy chiếc xe mô tô trên và 01 chiếc điện tho i t m giữ của Q không liên quan đến v án nên ngày 16/7/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã trao trả l i chiếc xe và 01 điện tho i di động cho Cầm Văn Q là phù hợp với quy định pháp luật.

6] Vật chứng của v án còn l i gồm: 01 phong bì thư niêm phong do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín. Chứa X=2,0gam Heroine là vật cấm lưu hành cần tịch thu để tiêu huỷ; 01 chiếc điện tho i di động hiệu OPPO t m giữ của bị cáo, xác định không liên quan đến ph m tội nên cần trả l i.

Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được xem xét miễn hình ph t bổ sung (là ph t tiền) cho bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về đề xuất mức án của Kiểm sát viên đối với bị cáo có phần nghiêm khắc, Hội đồng xét xử cần cân nhắc để có mức án phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; Điều 135 Bộ luật tố t ng hình sự; các Điều 21, 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố bị cáo Cà Văn X ph m tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử ph t: Cà Văn X 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình ph t tù tính từ ngày t m giữ, t m giam ngày 22/4/2020.

2. Vật chứng:

- Tịch thu để tiêu huỷ: 2,0gam Heroine, được đựng trong 01 phong bì thư niêm phong do bưu điện Việt Nam phát hành, đã niêm phong kín.

- Trả l i cho bị cáo: 01 chiếc điện tho i di động hiệu OPPO màu vàng nh t, không kiểm tra bên trong máy, điện tho i đã cũ và qua sử d ng.

Toàn bộ vật chứng được mô tả (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/7/2020 giữa Chi cục thi hành án dân sự và Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La).

3. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ