- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tr tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng h ình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ Luật tố tụng h ình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H À TR TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số : 74/2020/HS-ST Ngày: 28/9/2020 |
NHÂN DANH
NƯ ỚC CỘNG HO
À XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TR, TỈN H THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phi ên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân : 1. Ông Lê Văn Ký
2. Ông Đoàn Thân
- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Ngọc Nhạn
- Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Tr, tỉnh Thanh Hoá .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Tr, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Doãn Thị Luyến - Kiểm sát vi ên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H à Tr, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ th ẩm công khai vụ án h ình sự sơ th ẩm thụ lý số 68/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2020, theo Quyế t định đ ưa v ụ án ra xét xử số 73/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo :
Mai Văn Tr, sinh năm 1985; Tại: xã Nga Trư ờng, huyện Nga S ơn , tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú : Xóm 7, xã N, huyện N , tỉnh Thanh Hóa ; Nghề nghiệp: Lao động tự do ; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn M và bà Đoàn Thị L ; Chưa c ó vợ ; Tiền án: Không; Tiền sự : Không. Nhân thân: Ngày 12/4/2003 bị Công an huyện Nga Sơn x ử phạt h ành chính 50.000đồng về h ành vi “Trộm cắp t ài sản” và Ngày 27/02/2004 Tòa án nhân dân huyện Nga S ơn xử phạt 24 tháng t ù về tội “ Trộm cắp tài sản ”; Ngày 28/7/2004 bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn xử phạt 12 tháng t ù về tội “ Trộm cắp t ài sản ” ra trại ng ày 27/11/2006; Ngày 27/02/2012 bị T òa án nhân dân quận Ho àng Mai, TP. Hà Nội xử phạt 32 tháng t
ù về tội “T àng trữ trái phép chất ma túy” ra trại ng ày 17/01/2014.
Bị bắ t tạm giữ từ ng ày 21/5/2020 đến ng ày 30/5/2020 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.
Ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan:
Chị Nguyễn Thị L - Sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Khu phố 3, ph ư ờng P , thị x ã B, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án v à diễn biến tại phi ên tòa, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau: Khoảng 09 giờ, ng ày 21 tháng 5 năm 2020, Mai Văn Tr từ huyện Nga S ơn đi ều khiển xe mô tô BKS 36G1 -00289 lên huyện H à Tr để t ìm mua ma túy. Khi đến k hu dân cư thôn Thư ợng Quý, thị trấn H à Tr, Tr gặp một ngư ời đ àn ông không quen biết hỏi mua của ng
ư ời n ày 01 gói Heroin và 01 gói ma túy đá với giá 700.000đ (bảy trăm ngh ìn đồng). Tr cầm 02 (hai) gói ma túy trên tay trái rồi quay xe về theo đ ư ờng c ũ, khi đến thôn Phú Thọ, x
ã Hà Lai, huyện H à Tr thì bị lực l ư ợng Công an đến y êu cầu kiểm tra, Tr đã tự nguyện giao nộp 02 gói ma túy trên, Công an đã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang v
à niêm phong vật chứng.
Tạ i bản kết luận giám định số: 1
443/PC09 ngày 28/5/2020 của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hoá kết luận:
- Chất bột m àu trắng ng à dạng cục vụn của phong b
ì niêm phong gửi giám định l à ma túy có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) là: 0,315gam loại Heroine.
- Các hạt tinh thể m àu trắng của phong b ì niêm phong gửi giám định l à ma túy, có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) 0,237gam loại: Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số
76/CT-VKS-HT ngày 01/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện H à Tr, tỉnh Thanh Hoá đ ã truy tố Mai Văn Tr về tội “T àng trữ tr ái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật h ình sự .
Tại phi ên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H
à Tr giữ nguy ên quyết định truy tố v à đề nghị áp dụng : Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1
Điều 51; Điều 38 Bộ luật h ình sự. Đề nghị x ử phạt Mai Văn Tr từ 30 tháng đến 36 tháng tù; Đề nghị áp dụng
Điều 10 6 Bộ luật tố tụng h
ình sự , tịch thu ti êu hủy to àn bộ chất ma túy là Heroine và Methamphetamine là mẫu vật c òn lại sau giám định và không áp dụng hình phạt bổ sung l à tiền đối v ới bị cáo . Trả lại chiếc xe cho chị
L.
Lời nói sau c ùng bị cáo biết h ành vi của m ình là vi phạm pháp luật. Đề nghị
Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ h
ình phạt để sớm đ ư ợc trở về với gia đ
ình.
NHẬN ĐỊNH CỦA T
ÒA ÁN:
Trên cơ s ở nội dung vụ án, căn cứ v
ào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đ ã đư ợc tranh tụng tại phi ên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nh
ư sau:
[1]. Về h ành vi, quyết địn h tố tụng của C
ơ quan đi ều tra Công an huyện H à Tr, Điều tra vi ên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện H à Tr, Kiểm sát vi ên trong quá trình điều tra , truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, tr ình tự , thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng h
ình sự . Quá trình điều tra , truy tố và tại phi ên tòa, bị cáo v à những ng ư ời tham gia tố tụng
không có ý kiến hoặc khiếu nại về h
ành vi, quyết định của Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của
Cơ quan ti ến h ành tố tụng, ng ư ời tiến h ành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về h ành vi phạm tội của bị cáo: Tại phi
ên tòa, bị cáo Mai Văn Tr đã thành khẩn khai nhận to àn bộ h ành vi phạm tội của m
ình đúng như C áo trạng Viện kiểm sát truy tố . Đối chiếu lời khai n
hận của bị cáo với lời khai của
ngư ời làm chứng , kết quả giám định
và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s
ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồn g xét xử có đủ c ơ s ở kết luận : Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21 tháng 5 năm 2020, tại thôn Phú Thọ, x ã Hà Lai, huyện H à Tr. Công an huyện H à Tr phối hợp với Công an x
ã Hà Lai phát hiện Mai Văn Tr đang điều khiển xe mô tô BKS: 36G1 -00289 có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác đ ã yêu cầu Tr dừng xe để kiểm tra, lúc n
ày Tr tự nguyện giao nộp cho Công an 02 gói nhỏ
, kiểm tra hai gói nhỏ th ì thấy một gói b ên ngoài đư ợc bọc bằng nilon m
àu đen tiếp đến l à lớp giấy m àu trắng, b ên trong chứa chất bột m
àu trắ ng ngà dạng cục vụn nghi là ma tuý, gói còn lại b ên ngoài đư ợc bọc bằng nilon m
àu trắng b ên trong chứa c ác hạt tinh thể m àu trắng nghi là ma tuý đá. Tại chỗ Mai Văn Tr khai nhận 02 gói ma túy trên là của Tr mua về để sử dụng
. Công an đã lập bi ên bản bắt ng ư ời phạm tội quả tang đối với
Tr và niêm phong 02 gói ma tuý theo quy định . Hai gói ma túy, trong đó 01 gói có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) 0,315gam loại Heroine và 01 gói có trọng l ư ợng (khối l ư ợng) 0,237gam Methamphetamine . Tổng cộng 0,552gam. Như v ậy h ành vi của bị cáo đ ã phạm v ào tội “T àng trữ trái phép chất ma túy”.
[3]. Về tính chất, mức độ nghi
êm trọng của h ành vi phạm tội : Hành vi tàng trữ phép chất ma tuý của
Tr đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nh à nư ớc về chất ma tuý, xâm phạm đến trật tự an to
àn xã hội, h ành vi đó là rất nghi êm trọng, mang tính nguy hiểm cao cho x ã hội. Bị cáo phải biết rằng ma tuý là hiểm hoạ, l à nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức v
à cũng l à nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh h
ư ởng lớn đến trật tự trị an x
ã hội. Căn cứ v ào hành vi phạm tội của bị cáo cần phải đ
ư ợc x ử lý nghi êm khắc để giáo dục bị cáo và nhằm cảnh tỉnh răn đe ph òng ngừa những kẻ có ý đồ phạm tội nh
ư b ị cáo. Nên cần xử cách ly Tr ra khỏi cộng đồng x
ã hội một thời gian đ
ể cải tạo , giáo dục là cần thiết .
[4]. Về tình tiết tăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm h ình sự:
Bị cáo không phải chịu t ình tiết tăng nặng trách nhiệm h ình sự n ào. Nhưng nhân thân bị cáo đ ã bị xử lý h ành chính và ba lần bị T òa án các cấp xét xử và phải chấp h ành án. Nay đã đư ợc xóa án tích, đây thể hiện sự xem th
ư ờng pháp luật, không chịu tu d ư ỡng bản thân n ên cần xem xét khi quyết định h ình phạt.
Trong quá trình điều tra v à tại phi ên tòa, bị cáo đ ã thành khẩn khai bá o. Nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ mộ
t phần h ình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy đ ư ợc sự khoan hồng của pháp luật.
[5]. Về h ình phạt bổ sung: Theo quy định của pháp luật bị cáo có thể bị áp dụng h ình phạt bổ sung l à phạt tiền . Tuy nhiên bị cáo là đối t ư ợng nghiện ma túy, không có việc l àm ổn định , số l ư ợng chất ma túy t àng trữ không lớn v à không nhằm mục đích kiếm lời
. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng h
ình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về xử lý vậ t chứng: Số Heroine và Methamphetamine (vật chứng c òn lại sau giám định) thu đ ư ợc của Tr là vật Nh à nư ớc cấm l ưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy .
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36
G1-00289, là của chị Nguyễn Thị
L (mợ của Tr) cho mư ợn . Quá trình Tr dùng xe đi mua ma túy, chị L không biết v à nay chị xin đư ợc nhận lại. Xét thấy chiếc xe l
à tài sản của chị L, chị không có lỗi trong việc Tr sử dụng xe đi mua ma túy n ên cần trả lại chiếc xe n
ày cho chị Nguyễn Thị L.
[7]. Đối với ngư ời thanh niên bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết tên tuổi , địa chỉ cụ thể nên Cơ quan đi ều tra không xác định đ ư ợc ng ư ời n ày, nên không có căn cứ để xử lý .
[8]. Bị cáo phải chịu án phí h ình sự s ơ th ẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ tr ên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ v ào: Điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của
Bộ luật h ình sự.
- Về tội danh : Bị cáo Mai Văn Tr, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về mức h ình phạt: Xử phạt b ị cáo Mai Văn Tr: 33 (Ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn chấp h ành hình phạt t ù tính từ ng ày tạm giữ: 21 /5/2020.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật h
ình sự; điểm a khoản 2
, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng h
ình sự;
Tịch thu ti êu huỷ số Heroine và Methamphetamine còn lại sau giám định có trong bì niêm phong của Ph òng kỹ thuật h ình sự Công an tỉnh Thanh Hóa.
Trả lại chiếc xe mô tô BKS 36 G1-00289, số máy: VMVT3D-D005605, xe không có gương, v ỏ yếm xe bị vỡ, không có đăng ký xe, không thấy số khung, xe đã qua sử dụng cho chị Nguyễn Thị L.
(Hiện đang đ ư ợ c lưu gi ữ tại Chi cục thi h
ành án huyện H à Tr theo biên bản giao nhận ng ày 11/9/2020).
- Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng h
ình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ng
ày 30/12/2016 của Ủy ban th ư ờng vụ Quốc Hội, buộc bị cáo
Mai Văn Tr phải chịu 200.000đồng án phí h ình sự s ơ th ẩm.
Trư ờng hợp bản án đ ư ợc thi h ành theo Điều 2 Luật thi h ành án dân sự th ì ngư ời phải thi h ành án dân sự có quyền y êu cầu thi h ành án, tự nguyện thi h ành án hoặc bị c ư ỡng chế thi h ành án theo quy định tại các điều 6, 7 v à 9 Luật thi h ành án dân sự. Thời hiệu thi h
ành án đư ợc thực hiện theo điều 30 Luật thi h
ành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo , ngư ời có quyền lợi nghĩa vụ li
ên quan có quyền kháng cáo bản án n ày trong hạn 15 ngày, đối với Tr kể từ ng ày tuyên án, đối với chị L kể từ ng ày nhận đ ư ợc bản án hoặc ni êm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hóa ; - VKSND huyện H à Tr; - Công an huyện H à Tr; - Thi hành án HS; dân sự ; - Bị cáo ; ngư ời li ên quan; - Lưu h ồ s ơ v ụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ S Ơ TH ẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHI ÊN TÒA Hoàng Ngọc Tuấn |