vanban.org

Bản án 74/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương Tuyên án 30/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phú H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phạm Phú H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2020. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,839 gam Heroin được hoàn lại sau giám định trong phong bì thư dán kín niêm phong số 245/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương gửi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Phạm Phú H phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phú H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2020/HS-ST
Ngày 30-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Thúy và ông Phạm Văn Thấu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Anh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trác Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 74/2020/HSST ngày 16 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 74/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 9 năm 2020; Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 02/2020/TB - TA ngày 23/9/2020 đối với bị cáo:

Phạm Phú H, sinh năm 1975 tại huyện BG, tỉnh Hải Dương; nơi cư trú: Thôn OX, xã CB, huyện BG, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Phú H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Trần Thị T1 và có 03 con; lớn sinh 1997, nhỏ sinh 2003, tiền sự: Không.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Bản án số 17/2011/HSST ngày 31/5/2011 Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản. Đã được xóa án tích;

- Ngày 09/12/2010 Công an xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện xử phạt vi phạm hành chính số 11 về hành vi: Trộm cắp tài sản. Đã được xóa.

- Ngày 20/01/2011 Công an huyện Gia Lộc xử phạt vi phạm hành chính số 08 về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã được xóa.

- Ngày 10/6/2011 Công an huyện Gia Lộc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 90 về hành vi: Sử dụng trái phép chất ma túy. Đã được xóa.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/6/2020 đến ngày 13/6/2020 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương đến nay, có mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Lê Văn D, sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn ĐT, xã ĐQ, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

+ Anh Phạm Văn H2, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn AV, xã ĐX, huyện GL, tỉnh Hải Dương.

( Anh D, anh H2 đều vắng mặt tại phiên tòa)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị S - Luật sư - Thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước Sở tư pháp tỉnh Hải Dương - có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Phú H là người nghiện ma túy. Khoảng 15 giờ, ngày 04/6/2020, H cất giấu Heroine trong người sau đó đi bộ đến bãi đất trống khu vực chân cầu TT, thuộc địa phận thôn N, xã ĐT, huyện GL, tỉnh Hải Dương để bán Heroine cho những người nghiện ma túy. Khoảng gần 15 giờ 30 phút cùng ngày có Lê Văn D- Sinh năm 1979, trú tại thôn ĐT, xã ĐQ, huyện GL đi bộ đến và hỏi mua được của H 01 gói Heroin với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được Heroin, D liền ngồi tại chỗ, sử dụng hết gói Heroin vừa mua được bằng hình thức hít. Ngay sau khi bán ma túy cho D thì tiếp tục có Phạm Văn H2- Sinh năm 1977, trú tại thôn AV, xã ĐX, huyện GL cũng đi bộ đến gặp H và hỏi mua của H 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. H2 cũng ngồi tại chỗ, sử dụng hết gói Heroin vừa mua được bằng hình thức hít. Sau khi bán ma túy cho D và H2 thì có người tự khai tên là Nguyễn Văn T2- Sinh năm 1975, trú tại thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh Hải Dương đến gặp H và hỏi mua ma túy. H đồng ý bán cho T2 01 gói Heroin với giá 100.000 đồng. Hồi 15 giờ 35 phút cùng ngày, ngay sau khi H bán ma túy cho T2 xong thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy- Công an tỉnh Hải Dương phát hiện, bắt quả tang. Lực lượng Công an thu trên tay phải của T đang cầm 01 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T2 trình bày là Heroin vừa mua được của H, mục đích để sử dụng cho bản thân (Niêm phong ký hiệu M1); thu trên tay trái H đang cầm số tiền 300.000 đồng, H trình bày đây là tiền vừa bán ma tuý cho D, H2, Tuệ mà có; thu trên tay phải H đang cầm 01 hộp nhựa màu trắng hình trụ, bên trong hộp có 20 gói nhỏ bọc ngoài bằng giấy bạc màu trắng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột dạng cục màu trắng, H trình bày các gói đó đều là Heroin, H cất giấu mục đích để bán. Thu trên tay D và H2 mỗi người đang cầm 01 mảnh giấy bạc màu trắng và 01 bật lửa ga màu đỏ đã qua sử dụng.

Kết luận giám định số 245/KLGĐ-PC09 ngày 05/6/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, ghi thu của Nguyễn Văn T2, gửi đến giám định khối lượng là 0,041g (Không phẩy không trăm bốn mươi mốt gam) là ma túy, loại Heroin. Chất bột (dạng cục) mầu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, ghi thu của Phạm Phú H, gửi đến giám định tổng khối lượng là 0,936g (Không phẩy chín trăm ba mươi sáu gam) là ma túy, loại Heroin. Heroine nằm trong danh mục I, STT: 9, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Như vậy, tổng khối lượng chất ma túy loại Heroine Phạm Phú H đã bán và cất giấu để bán đã thu giữ được là: 0,041 gam + 0,936 gam = 0,977 gam (không phẩy chín trăm bảy mươi bảy gam);

Cáo trạng số 74/CT-VKS ngày 16/9/2020, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương truy tố Phạm Phú H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa: VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phú H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo từ 07 năm 6 tháng đến 8 năm tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 04/6/2020.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ số ma tuý hoàn lại sau giám định. Tịch thu cho tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng. Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 300.000đồng tiền do bị cáo phạm tội mà có. Lưu tại hồ sơ vụ án 01 phong bì thư niêm phong bên trong là 01 thẻ nhớ màu đen loại 16 GB lưu trữ nội dung ghi âm, ghi hình lấy lời khai của bị cáo Phạm Phú H ngày 06/6/2020 của Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hải Dương.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo trình bày: Bị cáo thuộc hộ nghèo, bản thân không được học hành nên không hiểu biết pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng và nói lời sau cùng đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 15 giờ 35 phút ngày 04/6/2020, tại khu vực bãi đất trống chân cầu TT thuộc địa phận thôn N, xã ĐT, huyện GL, tỉnh Hải Dương, Phạm Phú H có hành vi bán trái phép cho Lê Văn D- Sinh năm 1979, trú tại thôn ĐT, xã ĐQ, huyện GL, tỉnh Hải Dương và Phạm Văn H2- Sinh năm 1977, trú tại thôn AV, xã ĐX, huyện GL, tỉnh Hải Dương mỗi người 01 gói Heroin với giá 100.000 đồng; bán trái phép 01 gói Heroin có khối lượng 0,041 gam cho đối tượng tự khai là Nguyễn Văn T2- Sinh năm 1975, trú tại thôn PA, xã CA, huyện CG, tỉnh Hải Dương với giá 100.000 đồng, đồng thời H cất giấu trái phép trong lòng bàn tay phải 20 gói Heroin với tổng khối lượng là 0,936 gam thì bị phát hiện, bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tổng khối lượng chất ma túy loại Heroin H đã bán và cất giấu để bán đã thu giữ được là 0,977 gam.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo đã bán Heroin cho 03 người với số tiền thu được là 300.000đồng. Khối lượng chất ma tuý bị cáo đã bán và cất giấu để bán là 0,977 gam Heroin nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 BLHS. Như vậy, VKSND huyện Gia Lộc truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Ma túy gây tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến sự an toàn xã hội, an ninh trật tự tại địa phương; bị cáo nghiện ma tuý đã bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy nhưng bị cáo không tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn lệ thuộc vào chất ma túy và thực hiện phạm tội nên cần thiết phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian thì mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Số ma túy đã thu giữ gửi đến giám định, cơ quan giám định hoàn lại sau giám định 0,839 gam Heroin là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ. Tịch thu cho tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng.

Đối với số tiền 300.000đồng do bị cáo bán ma túy cho anh Lê Văn D, Phạm Văn H2 và Nguyễn Văn T2 mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo khai bán thuê cho anh Vũ Đình T3 ở thôn TĐ, xã ĐT, huyện GL, tỉnh Hải Dương, quá trình điều tra không đủ căn cứ xử lý.

Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Văn D, Phạm Văn H2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 08/6/2020 Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, công an tỉnh Hải Dương đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 25, 26 đối với D và H2.

Đối với Nguyễn Văn T2 trong quá trình làm việc tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương, lợi dụng sơ hở T2 đã bỏ trốn, qua xác minh tại địa chỉ T2 khai không có đối tượng nào tên tuổi địa chỉ như trên do vậy không làm rõ được đối tượng để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106, các điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Phú H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Xử phạt bị cáo Phạm Phú H 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 04/6/2020.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,839 gam Heroin được hoàn lại sau giám định trong phong bì thư dán kín niêm phong số 245/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương gửi Cơ quan CSĐT Công an huyện Gia Lộc. Tịch thu cho tiêu hủy 01 hộp nhựa màu trắng kích thước 12x03. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 300.000đồng. Lưu hồ sơ vụ án 01 phong bì thư có dấu của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương bên trong là 01 thẻ nhớ màu đen loại 16GB (đặc điểm như Quyết định chuyển vật chứng và biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 28 tháng 9 năm 2020).

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Phú H được miễn 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ