- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tiến K phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy…"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, …
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2020/HS-ST Ngày 11-11-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Lộc;
Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Lai – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Lê Tiến Khẩn, sinh năm 1990 tại Tây Ninh.
Nơi cư trú: ấp Bình Long, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiến Ngân và bà Nguyễn Thị Xuân; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Bản án số 15/2009/HSST ngày 12/02/2009 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Tiến Khẩn 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản". Bị cáo chấp hành án tại Trại Giam Cây Cầy. Lần bị kết án này tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích.
+ Bản án số 95/2013/HSST ngày 06/8/2013 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: áp dụng khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Tiến Khẩn 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Cố ý gây thương tích". Bị cáo chấp hành án tại Trại Giam Cây Cầy. Lần bị kết án này tính đến ngày phạm tội bị cáo đã được xóa án tích.
+ Ngày 30/11/2016 Công an xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 80/QĐ-XPHC, xử phạt bị cáo Lê Tiến Khẩn số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo chưa thi hành. Lần bị xử lý này tính đến ngày phạm tội đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.
+ Ngày 18/5/2018 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 100/QĐ-UBND, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với bị cáo Lê Tiến Khẩn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thời gian giáo dục là 03 tháng, kể từ ngày 18/5/2018. Bị cáo chấp hành xong vào ngày 18/8/2018 theo Giấy chứng nhận số 160/GCN-UBND.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/8/2020, chuyển tạm giam từ ngày 27/8/2020 đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 23/8/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên bị cáo Lê Tiến Khẩn đi đến khu vực chợ Tây Ninh thuộc Phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh gặp người tên Cầy (không rõ họ tên, năm sinh và địa chỉ) mua một gói ma túy với số tiền 200.000 đồng với mục đích mang về sử dụng. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo Khẩn cất giấu trong bóp da và bỏ vào túi quần phía sau rồi đi đến quán cà phê Bảo Ngọc thuộc ấp Bình Hòa, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để uống nước. Đến 02 giờ 00 phút ngày 24/8/2020 bị công an bắt quả tang đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: 01 đoạn ống hút màu trắng được hàn kín 02 đầu, bên trong chứa các tinh thể màu trắng và một số tài liệu, đồ vật khác.
* Tại Kết luận giám định số 1280/KL-KTHS ngày 27/8/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:
- Mẫu nhiều tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) đoạn ống hút màu trắng được hàn kín hai đầu (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,2627 gam.
Đối với người tên Cầy bán ma túy cho bị cáo Khẩn do không rõ tên và địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 1280/KL-KTHS có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Thi Sĩ Phương.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, số Imei1: 865222047338052; số Imei2: 865222047338045 (đã qua sử dụng).
- 02 (hai) bình gas mini nhãn hiệu Bluesky (đã qua sử dụng).
- 01 (một) đoạn ống thủy tinh dạng phễu.
- 02 (hai) đoạn ống hút (đã qua sử dụng).
* Về kê biên tài sản: Do bị cáo không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Tại bản Cáo trạng số: 85/CT-VKSCT ngày 13/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Tiến Khẩn về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Khẩn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Tiến Khẩn từ 18 (mười tám) đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự giải quyết về phần xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Tiến Khẩn thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình: Vào lúc 02 giờ 00 phút, ngày 24/8/2020, tại quán cà phê Bảo Ngọc thuộc ấp Bình Hòa, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Khẩn đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine có tổng khối lượng 0,2627 gam, nhằm mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang. Nên hành vi của bị cáo Khẩn đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng. Bị cáo là người thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo nhận thức được chất ma túy là rất độc hại, cấm tàng trữ trái phép, nhưng vì mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; đồng thời xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, tạo dư luận xấu trong nhân dân và có thể làm phát sinh một số loại tội phạm khác. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, phòng ngừa các loại tội phạm về ma túy và cũng có điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Cha của bị cáo là người có công với cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 2 Điều 35; khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 1280/KL-KTHS có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Thi Sĩ Phương, bên trong chứa chất ma túy là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 (hai) bình gas mini nhãn hiệu Bluesky (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống thủy tinh dạng phễu; 02 (hai) đoạn ống hút (đã qua sử dụng) là những vật dụng bị cáo dùng để sử dụng chất ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, số Imei1: 865222047338052; số Imei2: 865222047338045 (đã qua sử dụng) thu giữ của bị cáo Khẩn không phải là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Khẩn phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Lê Tiến Khẩn phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Tiến Khẩn 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/8/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi vụ số 1280/KL-KTHS có chữ ký xác nhận của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Thi Sĩ Phương, bên trong chứa chất ma túy là vật cấm lưu hành; 02 (hai) bình gas mini nhãn hiệu Bluesky (đã qua sử dụng); 01 (một) đoạn ống thủy tinh dạng phễu; 02 (hai) đoạn ống hút (đã qua sử dụng).
- Trả lại cho cho bị cáo Lê Tiến Khẩn: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu xanh đen, số Imei1: 865222047338052; số Imei2: 865222047338045 (đã qua sử dụng).
(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đang quản lý).
3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án hình sự sơ thẩm xử công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Phòng KTNV. TA tỉnh Tây Ninh; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - VKSND huyện Châu Thành; - Sở Tư pháp Tây Ninh; - Chi cục THA DS huyện Châu Thành; - Phòng PV 06; - Công an huyện Châu Thành; - Thi hành án HS. - Bị cáo; - Hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Phượng |