- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng T về việc ly hôn với anh Huỳnh Văn N.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST Ngày 16-3-2020 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hợp
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Trường Hận
Ông Văn Công Trọn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Trong ngày 16 tháng 3 năm 2020 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 84/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2020, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2020, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Hồng T – sinh năm 1982. Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; có mặt.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N – sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/02/2020 và tại phiên tòa chị Lê Hồng T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh N kết hôn năm 2008, hôn nhân tự nguyện, có tổ chức hôn lễ, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Hiện tại vợ chồng đã ly thân nhau. Xét thấy cuộc sống chung không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn thường xuyên xảy ra và không hàn gắn được nên chị yêu cầu ly hôn với anh N.
Về con chung: Có hai người con chung là cháu Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/02/2009 và cháu Huỳnh Nhật A, sinh ngày 11/01/2017. Các cháu hiện đang sống cùng chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật.
Về tài sản chung: Chị xác định tự thõa thuận với anh N, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Biên bản hòa giải ngày 06/03/2020, anh Huỳnh Văn N xác định:
Về hôn nhân: Anh thống nhất lời trình bày của chị T về thời gian chung sống, thời gian kết hôn. Hôn nhân do anh tự nguyện lựa chọn. Anh xác định vẫn còn yêu thương vợ, mâu thuẫn vợ chồng là không nghiêm trọng, anh hứa sẽ sửa đổi nên không đồng ý ly hôn với chị T, mong muốn đoàn tụ để cùng nhau chăm sóc các con.
Về con chung: Có hai người con chung là cháu Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/02/2009 và cháu Huỳnh Nhật A, sinh ngày 11/01/2017, các cháu hiện đang sống cùng chị T. Anh đồng ý giao chị T được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu, do hoàn cảnh khó khăn nên anh không đồng ý cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh xác định tự thõa thuận với chị T, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn anh Huỳnh Văn N có hộ khẩu thường trú tại ấp R, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị T khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh N, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con " theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; chị T là người khởi kiện, anh N là người bị kiện nên xác định tư cách đương sự chị T là nguyên đơn, anh N là bị đơn theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh N yêu cầu được xét xử vắng mặt; căn cứ theo khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt anh N theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh N tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Lộc, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau vào ngày 15/3/2008 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị T xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh N và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn, anh N không đồng ý ly hôn nhưng anh không đưa ra được giải pháp nào để thuyết phục được chị T từ bỏ ý định xin ly hôn với anh. Chị T xác định, nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T được ly hôn với anh N.
[3] Về con chung: Chị T và anh N có hai người con chung là cháu Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/02/2009 và cháu Huỳnh Nhật A, sinh ngày 11/01/2017. Các cháu hiện đang sống cùng chị T và chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng các cháu. Cháu Nhật A hiện vẫn chưa đủ tuổi để ghi nhận nguyện vọng của cháu theo quy định của pháp luật, riêng cháu Quốc A tòa án có ghi nhận nguyện vọng của cháu và cháu yêu cầu được sống cùng với chị T sau khi anh chị ly hôn nhau. Xét thấy, các cháu từ trước đến nay sống cùng với chị T, chị là người trực tiếp chăm sốc các cháu, anh N đồng ý giao các cháu cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, do đó Hội đồng xét xử quyết định giao các cháu cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng và điều kiện cụ thể của hai bên đương sự và đúng với quy định của pháp luật.
[4] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy, việc cấp dưỡng cho con là nghĩa vụ của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình. Về mức cấp dưỡng, theo quy định tại Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình và hướng dẫn tại khoản 2, mục III của Công văn số 24/1999/KHXX ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân tối cao thì mức cấp dưỡng tối thiểu không dưới 1/2 mức lương cơ sở do nhà nước quy định tại thời điểm xét xử đối với 01 người con, do đó anh N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai cháu Huỳnh Quốc A, Huỳnh Nhật A với số tiền 1.000.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu Quốc A, cháu Nhật A đủ 18 tuổi là có cơ sở. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 16/3/2020.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh N xác định tài sản chung tự thõa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị T phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, anh N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116 và Điều 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Hồng T về việc ly hôn với anh Huỳnh Văn N.
1. Về hôn nhân: Chị Lê Hồng T được ly hôn với anh Huỳnh Văn N.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/02/2009 và cháu Huỳnh Nhật A, sinh ngày 11/01/2017 cho chị Lê Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Huỳnh Văn N không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
3. Về cấp dưỡng: Buộc anh Huỳnh Văn N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Huỳnh Quốc A, sinh ngày 17/02/2009 và cháu Huỳnh Nhật A, sinh ngày 11/01/2017 với số tiền 1.000.000 đồng/tháng đối với mỗi cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Thời điểm cấp dưỡng được tính kể từ ngày 16/3/2020.
4. Về án phí: Chị Lê Hồng T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình, chị có nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003213 ngày 06 tháng 02 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu, chị Lê Hồng T không phải nộp tiếp. Anh Huỳnh Văn N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
Chị Lê Hồng T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Huỳnh Văn N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau; - Viện kiểm sát nhân dân H. Trần Văn Thời; - Chi cục THADS H. Trần Văn Thời; - UBND xã Khánh Lộc; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Hợp |