- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị Ánh - Hà Văn Hảo"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị Á được ly hôn anh Hà Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2020/HNGĐ-ST Ngày: 19-05-2020 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trương Thanh Hợi
Ông Nguyễn Văn Đàn
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Thị Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Nhữ Thị Hường - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 05 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 62/2020/TLST - HNG§ ngµy 26 th¸ng 03 n¨m 2020 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2020/Q§XX - ST ngµy 21/4/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2020/QĐST- HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ChÞ Vi ThÞ Á; Sinh năm: 1997
HKTT: Thôn Bố, xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
Bị đơn: Anh Hà Văn H; Sinh năm: 1993
HKTT: Thôn Bố, xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30/03/2020 và tại phiên tòa chị Vi Thị Á trình bày: Chị và anh Hà Văn H tự do yêu đương tìm hiểu có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán của địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá vào ngày 25/12/2015. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu do quá trình chung sống hai vợ chồng thường xuyên có bất đồng về quan điểm sống và tính cách, tháng 2/2018 sau khi vợ chồng cãi nhau thì anh Hảo có hành vi bạo lực đối với chị, từ đó vợ chồng ly thân. Quá trình ly thân hai vợ chồng không quan tâm gì đến nhau nữa, không hòa giải đoàn tụ. Nay chị xét thấy thực tế hai vợ chồng đã không cùng chung sống, không ai quan tâm ai, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có nguyện vọng muốn được ly hôn anh H.
Về con cái: Chị và anh H có 01 con chung là Hà Hoài An, sinh ngày 04/08/2016. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con vì cháu còn nhỏ và là con gái nên nếu ở với mẹ sẽ tốt hơn. Từ khi ly thân cháu ở với ông bà nội, anh H thường xuyên đi làm ăn xa, chị không trực tiếp nuôi con nhưng hàng tháng vẫn chu cấp tiền nuôi con, vẫn đến thăm con và đón con về chơi với chị. Tuy nhiên anh Hảo mỗi khi biết tin chị đón con lại yêu cầu ông bà nội lên đón cháu về không cho cháu chơi với chị. Chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng chị không có tài sản và công nợ chung nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại giấy yêu cầu phản tố ngày 02/4/2020 và tại phiên tòa anh Hà Văn H trình bày: Quá trình vợ chồng chung sống có xảy ra xích mích cãi vã nhau. Nay chị Á có yêu cầu ly hôn, anh cũng nhất trí ly hôn chị Á.
Về con cái: Vợ chồng anh có 01 con chung là Hà Hoài An, sinh ngày 04/08/2016. Ly hôn, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Anh không yêu cầu chị Á phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản: Vợ chồng anh không có tài sản gì chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, chị Á có đơn đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Á được ly hôn anh H. Về con cái: Giao con chung là cháu Hà Hoài An, sinh ngày 04/08/2016 cho chị Á trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản: Chị Á không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Đề nghị miễn tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Á.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Vi Thị Á và anh Hà Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 25/12/2015 tại UBND xã Lũng Cao, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm điều 8 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai vợ chồng còn trẻ, kinh tế khó khăn nên mỗi người đi làm ăn một nơi. Quá trình đi làm vợ chồng xa nhau dẫn đến không tin tưởng nhau, vợ chồng thường xuyên có tranh cãi. Các bên không thể khắc phục được nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng đã sống ly thân nhau từ tháng 2/2018 đến nay, không ai quan tâm tới ai, mạnh ai người ấy sống. Việc này đã được bố đẻ anh H là ông Hà Văn Liên xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Tòa án. Tại phiên tòa cả chị Á và anh H đều có nguyện vọng muốn được ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy, m©u thuÉn vî chång ®· ®Õn møc trÇm träng, đời sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. V× vËy, cần c¨n cø ®iÒu 55 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh xö cho chị Vi Thị Á và anh Hà Văn H được ly hôn để giải phóng cho nhau là cần thiết và phù hợp pháp luật.
Về con cái: Vợ chồng có 01 con chung là Hà Hoài An, sinh ngày 04/08/2016. Cả hai bên đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu của hai bên đương sự là hoàn toàn chính đáng thể hiện trách nhiệm của những người làm cha, làm mẹ đối với con. Nhưng xét hoàn cảnh thực tế cháu Hoài An mới được hơn 3 tuổi, giới tính nữ, đang còn nhỏ, rất cần bàn tay chăm sóc của người mẹ, bên cạnh mẹ. Chị Á hiện tại có công việc và thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con, chị thiết tha xin được trực tiếp nuôi con. Về phía anh H thường xuyên đi làm công trình xa nhà, nơi ở không ổn định, lâu lâu mới về thăm nhà nên thời gian gần gũi chăm sóc con có phần hạn chế. Hội đồng xét xử xét thấy, cần giao cháu Hà Hoài An cho chị Á được trực tiếp nuôi dưỡng nhằm ưu tiên và đảm bảo quyền lợi cho người phụ nữ là cần thiết và để anh H được quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, giới tính và các quy định của pháp luật. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung, do chị Á xét thấy đủ điều kiện tài chính để nuôi con và chị không yêu cầu nên miễn xét.
Về tài sản: Chị Á và anh H không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Do chị Vi Thị Á là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Chị Á đã có đơn đề nghị xin miễn tiền án phí. Vì vậy cần căn cứ vào điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án miễn nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Vi Thị Á.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 55, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Vi Thị Á được ly hôn anh Hà Văn H.
Về con cái: Giao cháu Hà Hoài An, sinh ngày 04/08/2016 cho chị Vi Thị Á trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về án phí: Miễn nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Vi Thị Á.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị Vi Thị Á và anh Hà Văn H. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bá Thước; - Các đương sự; - UBND xã Lũng Cao - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân Trƣơng Thanh Hợi Nguyễn Văn Đàn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Hùng |