vanban.org

Bản án 74/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PH
N
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74 /2019/HS-ST
Ngày 20 - 9 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚ ỘNG HOÀ XÃ HỘI HỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PH

N, TỈNH V

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Phong và ông Nguyễn Đăng Hải

- Thư ký phiên toà: ng Tr n Vi t Quang - Thư ý của T a án nh n d n thị Phúc Y n, t nh V.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh V tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị V n Anh - Kiểm sát vi n.

Ngày 20 tháng 9 năm 2019, tại nhà Văn hóa tổ 15, phường H, thành phố P, t nh V ét ử công hai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 73/2019/TLST –HS ngày 23 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số: 73/2017/QĐXXST – HS ngày 09 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Lê Xuân T, sinh ngày 23/4/1990 tại V; nơi thường trú: thôn C, xã P, huy n B, t nh V; nghề nghi p: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; d n tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông L Văn T và bà Nguyễn Thị H ; vợ con: không; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/6/2019 đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan:

Bà L Thị H , sinh năm 1985, vắng mặt

Trú tại: Thôn C, P, huy n B, t nh V.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn C;

Anh Nguyễn Văn C;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 22 tháng 6 năm 2019, Lê Xuân T một mình điều hiển xe mô tô Honda Wave, màu sơn đỏ, Biển iểm soát: 88H6 –4231 đến hu vực thôn T, T, thị P, t nh T gặp và mua ma túy 01 gói ma túy Heroine của 01 người đàn ông hông quen biết với giá 200.000đồng. Sau khi mua được ma túy Lê Xuân T đi e mô tô về nhà mình tại P, huy n B, t nh V với mục đích để sử dụng ma túy. Tr n đường đi về nhà đến hoảng 01 giờ 45 phút ngày 23 tháng 6 năm 2019, khi Lê Xuân T đi về đến hu vực tổ d n phố X, phường P, thành phố P, t nh V, Tình dừng e để tìm quán mua bật lửa mục đích để sử dụng ma túy, nhưng chưa ịp mua thì bị Công an phường P, thành phố Pphát hi n bắt quả tang thu giữ cùng tang vật.

*Vật chứng thu giữ gồm: Thu giữ của Lê Xuân T 01 gói giấy màu trắng b n trong chứa các cục bột màu trắng, ni m phong trong phong bì ý hi u A1, 01 mảnh giấy bạc, 01 đi n thoại di động nh n hi u Viettel màu anh đen, 01 xe mô tô Honda Wave màu sơn đỏ, Biển iểm soát: 88H6–4231 và số tiền 242.000đồng.

Tại Bản ết luận giám định số: 1187/KLGĐ ngày 26/6/2019 của Ph ng Kỹ thuật hình sự Công an t nh V giám định đối với vật chứng thu giữ được ni m phong trong phong bì ý hi u A1 ết luận: “Chất bột dạng cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,2761 gam (Không phảy hai bảy sáu một gam, không kể bao bì) loại Heroine”.

Cơ quan giám định đ hoàn lại sau giám định là A1= 0,1260 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Xuân T đ thành hẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đ n u tr n.

Tại Cáo trạng số: 69/CT-VKSPY ngày 22 tháng 8 năm 2019, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Ptruy tố Lê Xuân T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phi n t a, đại di n Vi n iểm sát vẫn giữ nguy n quan điểm đ truy tố đối với bị cáo Lê Xuân T. Đề nghị Hội đồng ét ử: Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự; ử phạt Lê Xuân T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam 23 tháng 6 năm 2019; hông áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị ử lý vật chứng như Cáo trạng đ đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, ét hỏi, tranh luận tại phi n t a, Hội đồng ét ử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Phúc Y n, Điều tra vi n, Vi n iểm sát nh n d n thành phố Phúc Y n, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo và người tham gia tố tụng hác hông có ý iến hoặc hiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hi n là hợp pháp.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phi n toà bị cáo Lê Xuân T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Vi n iểm sát nh n d n thành phố Pđ truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài li u có trong hồ sơ như lời hai của người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan, người làm chứng; bi n bản phạm tội quả tang, Kết luận giám định và phù hợp với vật chứng đ thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để ết luận: Khoảng 01 giờ 45 phút ngày 23/6/2019, tại tổ d n phố X, phường P, thành phố P, Lê Xuân T đ có hành vi tàng trữ trái phép 0,2761 gam ma túy Heroine với mục đích để sử dụng thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật. Do vậy hành vi của bị cáo Lê Xuân T đ phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c hoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự như sau: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.".

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng tình hình trị an địa phương. Vì vậy, c n phải xử lý nghi m trước pháp luật mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo nghi n ma túy từ năm 2013, với mục đích để sử dụng bị cáo đ tàng trữ trái phép chất ma túy. Trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; trong quá trình điều tra, xét xử bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự nào. Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, c n buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian như mức án đề nghị của Vi n kiểm sát mới có tác dụng răn đe, ph ng ngừa và giáo dục chung, cũng như giúp bị cáo cải tạo thành người công dân tốt.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và làm rõ tại phiên tòa Lê Xuân T là đối tượng nghi n ma túy, hông có công vi c ổn định và hông có tài sản riêng do đó hông áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Đối với người đàn ông Lê Xuân T khai đ bán ma túy cho Tình tại thôn Thanh Xuy n, Trung Thành, huy n Phổ Y n, t nh Thái Nguy n. Quá trình điều tra vụ án đến nay cơ quan điều tra vẫn chưa ác định được nh n th n lai lịch cụ thể do đó c n tiếp tục làm rõ để ử lý sau.

Đối với các đối với chiếc e máy Honda Wave mang biển iểm soát 88H6 – 4231 là tài sản hợp pháp của chị Lê Thu H, chị gái bị cáo. Chị Hương hông biết vi c bị cáo sử dụng tài sản của mình để đi mua ma túy do đó cơ quan điều tra trả lại tài sản cho chị Hương là có căn cứ c n chấp nhận.

Đối với 01 chiếc đi n thoại di động nh n hi u Viettel màu anh đen đ qua sử dụng và số tiền 242.000đồng (Hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng) thu giữ của bị cáo, qua điều tra làm rõ hông li n quan đến hành vi phạm tội của bị cáo n n c n trả lại cho bị cáo; nhưng tạm giữ để đảm bảo vi c thi hành án.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với mẫu vật hoàn lại sau giám định là A1= 0,1260 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói niêm phong c n phải tịch thu ti u hủy theo quy định.

Về án phí: C n buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ tr n,

QU ẾT ĐỊNH:

Tuy n bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c hoản 1 Điều 249; điểm s hoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

Xử phạt Lê Xuân T 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/6/2019.

Áp dụng Điều 47, Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, ti u hủy 0,1260 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói, 01 mảnh giấy bạc.

Trả lại cho bị cáo Lê Xuân T 01 chiếc đi n thoại di động nh n hi u Viettel màu anh đen đ qua sử dụng và số tiền 242.000đồng (Hai trăm bốn mươi hai nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo vi c thi hành án.

Theo bi n bản giao, nhận vật chứng ngày 19 tháng 9 năm 2019 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Pvới Công an thành phố Phúc Y n.

Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí và l phí T a án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo Lê Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo có mặt quyền háng cáo bản án trong hạn 15 ngày ể từ ngày tuy n án; người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ