vanban.org

Bản án 74/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Tuyên án 07/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/8/2019. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Văn D. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG HƯNG
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---***---
Bản án số: 74/2019/HS-ST
Ngày 07/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HƯNG, TỈNH THÁI BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành.

- Các hội thẩm nhân dân: 1, Ông Hà Huy Khoa.

2, Bà Nguyễn Thị Vĩnh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 72/2019/HSST ngày 15 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/HSST-QĐ ngày 24/10/2019 đối với bị cáo:

Phạm Văn D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 05/12/1984

Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.

Con ông Phạm Văn H, sinh năm 1951 và bà Bùi Thị L (đã chết).

Bị cáo là con thứ ba trong gia đình có ba anh chị em.

Vợ, con: Chưa.

Tiền án: Không.

Tiền sự (01 tiền sự): Ngày 24/01/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 06/QĐ-TA; Ngày 04/12/2017 bị cáo chấp hành xong.

Bị cáo tạm giữ từ ngày 06/8/2019 đến 09/8/2019 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, trích xuất có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Phạm Văn H, sinh năm 1951 (có mặt)

Trú tại: Thôn A, xã H, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

* Người chứng kiến:

1, Anh Nguyễn Hữu H, sinh năm 1978 (vắng mặt)

2, Chị Lê Thị H, sinh năm 1971 (vắng mặt)

Đều trú tại: Thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn D là đối tượng sử dụng ma túy, loại ma túy sử dụng là hêrôin, hình thức sử dụng là chích. Do nghe mọi người nói tại quán cà phê H ở thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình có người bán ma túy nên khoảng 11 giờ ngày 06/8/2019, sau khi ăn cơm xong D lấy xe đạp mini của bố đẻ ông Phạm Văn H đi từ nhà đến quán ca phê H để mua ma túy về sử dụng. Đến nơi D đi về phía vách tường ngăn đút 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng qua khe cửa và làm theo hướng dẫn của 01 người phụ nữ bên trong, sau đó người phụ nữ đưa lại cho D 01 gói ma túy được gói bằng giấy có dòng kẻ. D cầm ma túy và cho vào vỏ bao thuốc Marlboro rồi điều khiển xe đạp đi về, trên đường về D vào hiệu thuốc tân dược mua 02 bơm kim tiêm, 01 ống novocain hết 10.000 đồng với mục đích mang về nhà để sử dụng. Khi đi được một đoạn thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt giữ. Thu giữ vật chứng gồm: 01 một gói nhỏ giấu tại túi áo ngực bên trái kích thước (1x0,5)cm, bên ngoài được gói bằng giấy có dòng kẻ bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục được đặt trong vỏ bao thuốc Marlboro; 01 ống Nôvôcain đã vỡ một đầu; 02 bơm kim tiêm; 01 xe đạp mini đã cũ và đưa D về UBND xã M lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, sau đó dẫn giải D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đông Hưng để giải quyết.

Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo Phạm Văn D nhưng không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại bản kết luận giám định số 329/KLGĐ-PC09 ngày 06/8/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 0,1172 gam”.

Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng số 75/CT-VKSĐH ngày 14/10/2019 đã truy tố, hành vi của bị cáo Phạm Văn D đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về áp dụng pháp luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

Đề nghị tuyên phạt bị cáo Phạm Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù giam và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Ngoài ra còn đề nghị HĐXX giải quyết về vật chứng, án phí của vụ án.

Bị cáo Phạm Văn D nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các quy định của pháp luật giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

PHẦN NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Phạm Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và phù hợp với chính lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/8/2019; Kết luận giám định số 329/KLGĐ-PC09 ngày 06/8/2019; Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H; Lời khai của người chứng kiến anh Nguyễn Hữu H, chị Lê Thị H cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.

[2.1] Do vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Văn D đã có hành vi xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các chất ma túy nên vào hồi 12 giờ 00 phút ngày 06/8/2019 tại Quốc lộ 39A thuộc thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình bị cáo Phạm Văn D đã có hành vi tàng trữ 0,1172gam ma túy, loại Hêrôin với mục đích để sử dụng và bị bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Phạm Văn D đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy:

1: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a………………………………………………………………………….

c. Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d………………………………………………………………………………….”.

[2.2] Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ: Đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh an toàn xã hội. Ma tuý còn là nguồn gốc phát sinh các loại bệnh tật ảnh hưởng đến giống nòi và thuần phong mỹ tục của dân tộc, kéo theo sự xuống cấp của đạo đức xã hội và là nguồn gốc của nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bị cáo đã bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi sử dụng ma túy, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, coi thường pháp luật.

Khi xem xét, cân nhắc hình phạt cần xem xét đến tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ:

- Bị cáo Phạm Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

- Về các tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; bố đẻ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Hưng tại phiên tòa là phù hợp.

[2.3] Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo Phạm Văn D tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nhập không ổn định, bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2.4] Trong vụ án này:

- Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo D khai mua của người phụ nữ tại quán cà phê H ở thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, bị cáo không biết tên, không nhìn thấy mặt đứng trong quán cà phê với giá 200.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành ghi lời khai của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1992 và chị Bùi Thị H, sinh năm 1994 đều ở thôn L, xã M, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình là chủ quán cà phê H nhưng anh T, chị H đều không thừa nhận nên không có căn cứ xác minh xử lý.

- Nguồn gốc số tiền 210.000 đồng bị cáo D dùng mua ma túy, ống Novocain và bơm kim tiêm là do lao động mà có nên không truy thu.

[3] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,0845 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định và 01 ống Novocain; 02 bơm kim tiêm; 01 vỏ bao thuốc Marlboro thu giữ của bị cáo Phạm Văn D có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 15/10/2019.

- Đối với chiếc xe đạp mini đã cũ quá trình điều tra xác định là của ông Phạm Văn H, sinh năm 1951 ở thôn A, xã H, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình là bố đẻ của bị cáo. Bị cáo D tự lấy xe đạp đi, ông H không biết D lấy xe để đi mua ma túy nên ngày 30/9/2019 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Phạm Văn H cần được chấp nhận.

[4] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn:

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng điều luật và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.

- Xử phạt bị cáo Phạm Văn D 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù giam, thêi h¹n chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ 06/8/2019.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Phạm Văn D.

3. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,0845 gam ma túy hoàn trả lại sau giám định và 01 ống Novocain; 02 bơm kim tiêm; 01 vỏ bao thuốc Marlboro thu giữ của bị cáo Phạm Văn D có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Đông Hưng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hưng ngày 15/10/2019.

- Chấp nhận việc Cơ quan điều tra Công an huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đã trả lại cho ông Phạm Văn Hỹ, sinh năm 1951 ở thôn An Bài, xã Hoa Lư, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình 01 xe đạp mini đã cũ.

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Bị cáo Phạm Văn D phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Văn D và ông Phạm Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. N¬i nhËn:

Cỡ chữ