vanban.org

Bản án 74/2019/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Ninh Kiều, TP. Cần Thơ Tuyên án 28/08/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP SGTT Buộc bị đơn ông Lý Văn S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền gốc 29.738.185 đồng; nợ lãi tính đến ngày 28/8/2019 là 45.651.732 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 75.389.917 đồng (Bảy mươi lăm triệu ba trăm tám mươi chín nghìn chín… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tín dụng"
  • Tòa quyết gì? ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN NINH KIỀU
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2019/DSST
Ngày: 28/8/2019
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Hoàng Vũ

2. Bà Nguyễn Lệ Huyền

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều.

Ngày 28 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 261/2018/TLST-DS ngày 09/8/2018 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 497/2019/QĐST-DS ngày 07 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP SGTT Địa chỉ: Lầu 8, 266-268 NKKN, phường 8, quận 3, thành phố HCM.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Trường S - Có mặt

Địa chỉ: 95-97-99, VVT, phường TA, quận NK, TPCT.

(Văn bản ủy quyền ngày 02/01/2019)

Bị đơn: Ông Lý Văn S, sinh năm 1966 – Vắng mặt Địa chỉ: 74/10, đường 30/4, phường AP, quận NK, TPCT.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Đại diện của nguyên đơn trình bày:

Ngân hàng TMCP SGTT (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lý Văn S ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ) ngày 06/9/2007. Hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng; mục đích vay là tiêu dùng cá nhân; Sau khi cấp thẻ tín dụng ông Lý Văn S đã thực hiện giao dịch tổng số tiền 286.312.348 đồng. Từ ngày kích hoạt thẻ ông Lý Văn S đã thanh toán cho ngân hàng số tiền là 305.795.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Lý Văn S vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã nhiều lần làm việc, nhắc nhưng ông Lý Văn S không có thiện chí trả nợ. Ngày 01/10/2015 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với khoản vay này.

Tính đến ngày 28/8/2019: Số tiền gốc là 29.738.185 đồng; Số nợ lãi quá hạn là 45.651.732 đồng, tổng cộng là 75.389.917 đồng và tiếp tục trả lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đến khi tất nợ.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Lý Văn S đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện ủy quyền của ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Xét về thủ tục tố tụng:

- Về quan hệ pháp luật: Giữa Ngân hàng với ông Lý Văn S có ký kết ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ) ngày 06/9/2007. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn phải thanh toán nợ vay theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết. Tòa án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng tín dụng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận Ninh Kiều nên tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về vắng mặt các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay bị đơn có hộ khẩu thường trú tại 74/10, đường 30/4, phường AP, quận NK, TPCT. Tòa án không tống đạt được cho bị đơn và đã tiến hành niêm yết thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải hợp lệ; Tòa án tiến hành niêm yết giấy triệu tập và quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn tham dự phiên tòa vào lúc 08 giờ ngày 06/8/2019 và lúc 08 giờ ngày 28/8/2019 hợp lệ nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

[2] Xét về nội dung:

- Về nợ: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lý Văn S trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết ngày 06/9/2007 với hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ ông Lý Văn S đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 286.312.348 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Lý Văn S có trả số tiền 305.795.000 đồng. Kể từ ngày 01/10/2015 do ông Lý Văn S vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng được quy định tại khoản 23 điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ. Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Lý Văn S và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn đối với khoản nợ vay đúng theo quy định Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.

Tính đến ngày 28/8/2019, ông Lý Văn S còn nợ ngân hàng tổng số tiền 75.389.917 đồng (trong đó nợ gốc là 29.738.185 đồng; Số nợ lãi quá hạn là 45.651.732 đồng). Yêu cầu của Ngân hàng buộc ông Lý Văn S trả tổng số tiền 75.389.917 đồng tính đến ngày 28/8/2019 và trả lãi theo thỏa thuận được ký kết trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết ngày 06/9/2007 giữa các bên cho đến khi tất nợ là có cơ sở đúng quy định khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Về án phí dân sự sơ thẩm bị đơn phải chịu 3.769.495 đồng. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015;

- Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng.

- Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP SGTT

- Buộc bị đơn ông Lý Văn S có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP SGTT số tiền gốc 29.738.185 đồng; nợ lãi tính đến ngày 28/8/2019 là 45.651.732 đồng. Tổng cộng gốc và lãi 75.389.917 đồng (Bảy mươi lăm triệu ba trăm tám mươi chín nghìn chín trăm mười bảy đồng) và phải chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết tính từ ngày 29/8/2019 cho đến khi trả tất nợ.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Lý Văn S phải chịu 3.769.495 đồng (Ba triệu bảy trăm sáu mươi chín nghìn bốn trăm chín mươi lăm đồng).

Nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 1.161.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi mốt nghìn đồng) theo biên lai thu số 007691 ngày 19/4/2018 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ