vanban.org

Bản án 74/2019/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/09/2019 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/09/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M; sửa bản án

dân sự sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện BB: Áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Tranh chấp quyền sử dụng đất"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M; sửa bản án
  • Căn cứ chính? Điều 100 Luật Đất đai; Điều 14 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 74/2019/DS-PT
Ngày: 24 – 9 - 2019
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BT

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

+ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Cường

+ Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phúc, bà Nguyễn Thị Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Tòa án nhân

dân tỉnh BT.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BT: Bà Nguyễn Thị Hằng, Kiểm

sát viên.

Trong ngày 24 / 9 /2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh BT xét xử phúc

thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 01/2018/TLPT-DS ngày 22 tháng 01 năm

2018 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 26/10/2017 của Tòa án

nhân dân huyện BB bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 76/2018/QĐ-PT ngày

20.3.2018, Quyết định tạm ngừng phiên tòa phúc thẩm số 05/2018/QĐ-PT ngày

30.3.2018, Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm số 09/2018/QĐ-PT ngày

11.6.2018, Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 178/2019/QĐ-PT ngày

30.8.2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2019/QĐ-PT ngày 12.9.2019 của

Tòa án nhân dân tỉnh BT, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

+ Ông Vòng Cắm S, sinh năm 1974

+ Bà Nguyễn H, sinh năm 1980

Cùng địa chỉ: 12 Lê Hồng Phong, thôn HL, xã HN, huyện BB, tỉnh BT.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Minh, sinh năm 1958

Địa chỉ: Khu phố Lương Tây, thị trấn Lương Sơn, huyện BB, tỉnh BT, có

mặt.

2. Bị đơn:

+ Ông Lỷ Nhật S, sinh năm 1960

+ Bà Hà Thị M, sinh năm 1964

Địa chỉ: 131 Lê Lợi, thôn HL, xã HN, huyện BB, BT

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lỷ Nhật S: Luật sư

Trần Văn Đạt – Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh

BT, có mặt.

Do có kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M.

Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án ông

Vòng Cắm S, bà Nguyễn H trình bày:

Nguồn gốc diện tích 79,7 m2 đất tọa lạc tại thôn HL, xã HN, huyện BB,

tỉnh BT trước đây là của ông T.Sằn Bạt; sau đó ông Bạt không sử dụng nên xã quản lý. Năm 2013, do có nhu cầu sử dụng đất, nên ông bà làm đơn và được Ủy ban nhân dân xã HN xét và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện BB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng có thu tiền sử dụng đất. Nên ngày 28/3/2013, ông bà được Ủy ban nhân dân huyện BB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 566450, thửa đất số 300, tờ bản đồ số 07, diện tích 79,7 m2 tọa lạc tại thôn HL, xã HN, huyện BB, tỉnh BT. Khi ông bà tiến hành dọn dẹp đất thì vợ chồng ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M đã ngăn cản và cho rằng diện tích đất nói trên là của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M. Nên ông bà yêu cầu vợ chồng ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M phải trả lại diện tích đất nói trên cho ông bà.

Bị đơn ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M trình bày:

Diện tích 79,7 m2 tọa lạc tại thôn HL, xã HN, huyện BB, tỉnh BT ông bà

đã sử dụng và đóng thuế cho Nhà nước từ năm 1986 cho đến nay. Nên ông bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm S và bà Nguyễn H.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 26-10-2017, Tòa án

nhân dân huyện BB đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 14 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 166 Bộ luật dân sự 2015; Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dung án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm S và bà Nguyễn H.

Buộc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M phải trả diện tích đất thổ cư đo đạc

thực tế là 79,3 m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 566450, thửa đất số 300, tờ bản đồ số 07 do Ủy ban nhân dân huyện BB cấp ngày 28/3/2013 cho ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H.

Đất tranh chấp tọa lạc tại 24 Lê Hồng Phong, thôn HL, xã HN, huyện BB.

Đất có tứ cận:

Phía Đông: Giáp nhà ông Vòng Lầm Hếnh.

Phía Tây: Giáp nhà ông Lỷ Nhật S.

Phía Nam: Giáp đường Lê Hồng Phong

Phía Bắc: Giáp nhà ông Vòng Lầm Hếnh

(Kèm theo sơ đồ vị trí đất tranh chấp).

2. Về án phí: Ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M phải nộp 1.886.547 đồng án

phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại cho ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H số tiền tạm ứng án phí dân sự

sơ thẩm đã nộp 392.425 đồng theo biên lai thu tiền số 0003963 ngày 21/3/2016

của Chi cục thi hành án dân sự huyện BB.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 13.11.2017, ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M kháng cáo (quá hạn) cho

rằng toàn bộ diện tích 79,7 m2 đất tranh chấp được ông bà quản lý sử dụng và

đóng thuế cho Nhà nước liên tục từ năm 1986 đến nay. Năm 2010, ông bà có

đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã HN để được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất nhưng không được Ủy ban nhân dân xã HN trả lời. Đến năm 2013 ông

S và bà Hương được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mặc dù không trực

tiếp sử dụng đất. Ông bà yêu cầu bác yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm S, bà

Nguyễn H. Công nhận quyền sử dụng đất tranh chấp cho ông, bà và hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H.

Ngày 30.11.2017, Tòa án nhân dân tỉnh BT giải quyết chấp nhận kháng

cáo quá hạn của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M vẫn giữ nguyên kháng cáo.

- Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Lỷ Nhật S phát biểu ý

kiến và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lỷ Nhật

S, bà Hà Thị M, bác yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H hoặc

hủy án sơ thẩm, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm giải quyết lại.

- Người đại diện theo ủy quyền của ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H

không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị xử như án sơ thẩm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BT phát biểu ý kiến về vụ án và đề

nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị

M, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 26-10-2017 của Tòa án

nhân dân huyện BB, buộc bị đơn phải tháo gỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất

tranh chấp để trả lại đất cho nguyên đơn.

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đã được thẩm tra, xem xét tại phiên

tòa, căn cứ lời khai của các đương sự, lời trình bày của Luật sư, kết quả tranh

tụng và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác

minh,thu thập chứng cứ tại cơ quan quản lý Nhà nước về Đất đai tại địa phương về nguồn gốc đất đang tranh chấp, thì tại văn bản số 1106/UBND-NC ngày 23/6/2017 Ủy ban nhân dân huyện BB xác định: “Nguồn gốc thửa đất số 300, tờ bản đồ số 7, diện tích 79,7 m2, trước năm 1983 là của ông Tsằn Bạt, từ năm 1984 đến 1985 bỏ hoang. Sau năm 1985 đến năm 2000 hộ ông Vòng Lầm Hếnh (cha của ông Vòng Cắm S) và hộ ông Lý Nhật S cùng sử dụng để xe bò. Sau năm 2000, thửa đất trên bỏ hoang, không sử dụng”.

Tại bản tự khai ngày 17.5.2017, ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M khai:

Năm 1985 HTX tín dụng tháo gỡ tôn còn 01 lô đất trống sát đất nhà tôi, năm 1986 gia đình tôi quản lý số diện tích trên 5 m x 14 m = 70 m2 sử dụng nuôi bò, chăn nuôi gà, bị Ủy ban xã HN phạt do gây ô nhiễm môi trường.

Tại phiên tòa phúc ông Lỷ Nhật S khai: Diện tích đất tranh chấp là do vợ

chồng ông mua của ông T.Sằn Bạt vào năm 1986, cũng trong năm 1986 ông có kê khai đăng ký tại xã; việc mua bán và kê khai đăng ký chỉ nói bằng miệng không giấy tờ”.

Như vậy, căn cứ vào lời khai của các đương sự và xác minh của Cơ quan

quản lý đất đai tại địa phương thì diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc của ông T.Sằn Bạt. Ông Lỷ Nhật S cho rằng đã mua của ông T.Sằn Bạt, nhưng ông Lỷ Nhật S không đưa ra được chứng cứ chứng minh cho lời khai của mình; hiện nay ông Bạt đã chết, nên không thể đối chứng. Nên không có căn cứ để cho rằng đất đang tranh chấp đã được ông Lỷ Nhật S mua của ông T.Sằn Bạt.

Trong quá trình tham gia tố tụng ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M cho

rằng ông, bà quản lý sử dụng và đóng thuế đất tranh chấp cho Nhà nước liên tục từ năm 1986 đến nay và đã được Ủy ban nhân dân huyện BB cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 186128 ngày 14/10/2013 cho ông, bà. Nên Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thì cũng tại Văn bản số 1106/UBND-NC ngày 23/6/2017 Ủy ban nhân dân huyện BB xác định: “Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 566450 ngày 28/3/2013, thửa đất số 300, tờ bản đồ số 07 (diện tích 79,7 m2, đứng tên ông Vòng Cắm S và bà Nguyễn H ) và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BQ 186128 ngày 14.10.2013, thửa đất số 60, tờ bản đồ số 07 (diện tích 126,7 m2, đứng tên ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M) tọa lạc tại thôn HL, xã HN, huyện BB là không chồng lấn nhau”.

Như vậy, diện tích đất tranh chấp với diện tích đất mà vợ chồng bị đơn

được cấp giấy chứng nhận là 02 diện tích thuộc 02 thửa đất ở 02 địa chỉ khác nhau. Nên việc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M cho rằng “diện tích đất tranh chấp là diện diện tích ông, bà đã được cấp Giấy chứng nhận”, là không có căn cứ pháp luật.

Trong quá trình tham gia tố tụng, ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M có

cung cấp bản phô tô 03 Thông báo nộp thuế sử dụng đất năm 2012, 2015, 2016 đối với diện tích 206,4 m2 và 03 Biên lai thu thuế sử dụng đất phi nông nghiệp của năm 2013, 2015, 2016 để cho rằng “ông bà là người sử dụng và đóng thuế đối với diện tích đất tranh chấp từ năm 1986 đến ngày nay, nên ông bà được

quyền sử dụng diện tích đất này”. Nhưng căn cứ vào các thông tin ghi trong

Thông báo thuế do ông Lỷ Nhật S cung cấp thể hiện địa chỉ thửa đất chịu thuế ở

số 131 đường Lê Lợi, xã HN, huyện BB, tỉnh BT. Còn diện tích đất tranh chấp

có mặt tiền giáp đường Lê Hồng Phong xã HN, huyện BB, tỉnh BT.

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh

BT có xác minh tại cơ quan quản lý Nhà nước về Đất đai tại địa phương về quá

trình quản lý, sử dụng diện tích đất tranh chấp; thì tại Văn bản số 2438/UBND-

NC ngày 06.12.2018, Ủy ban nhân dân huyện BB xác định: Từ năm 1986 đến

nay, ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M không kê khai, đăng ký và không đóng thuế đối

với diện tích đất tranh chấp 79,7 m2.

Hơn nữa, đến năm 2013 thì Nhà nước đã bán diện tích đất tranh chấp cho

vợ chồng nguyên đơn. Nên, nếu thực sự có việc Chi cục thuế huyện BB thu thuế

sử dụng đất của bị đơn đối với diện tích đất tranh chấp như bị đơn khai, thì việc

Chi cục thuế huyện BB thu thuế của ông Lỷ Nhật S từ năm 2013 trở về sau là

không đúng quy định. Việc nộp thuế một vài năm của ông Lỷ Nhật S không phải

là căn cứ duy nhất để được công nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp Giấy

chứng nhận quyền sử dụng diện tích 126,7 m2 đất ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M

không làm đơn khiếu nại.

Nên, việc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M sử dụng diện tích đất tranh chấp là

không có căn cứ pháp luật.

Trong quá trình tham gia tố tụng ở cấp phúc thẩm, ông Vòng Cắm S

và bà Nguyễn H có cung cấp 01 bức ảnh chụp diện tích đất tranh chấp là đất

trống, ứ đọng nước thải sinh hoạt do các hộ dân xung quang thải ra. Theo Biên

bản xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp ngày 13.4.2018 của Tòa án tỉnh

BT thì trên diện tích đất tranh chấp vợ chồng bị đơn có rào tôn kẽm cũ ở phía

Nam giáp với đường Lê Hồng phong, bên trong đất bị đơn đặt chuồng gà làm

bằng cây gỗ, thả gà trên đất và có một phần mái tôn nhà dưới sang đất tranh

chấp 0,4 m, bị đơn không xây dựng công trình gì trên đất; ngoài ra trên đất tranh

chấp còn có hồ nước cũ đã hư hỏng không còn sử dụng mà theo nguyên đơn, bị

đơn xác định là do trước đây ông T.Sằn Bạt làm. Nên việc ông Lỷ Nhật S, bà Hà

Thị M cho rằng: “Ông, bà có làm công trình phụ trên đất” là không có căn cứ

pháp luật.

Còn việc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M kháng cáo yêu cầu hủy Giấy

chứng nhân quyền sử dụng đất đã cấp cho nguyên đơn. Nhưng trong quá trình

giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm bị đơn không phản tố và yêu cầu này của bị đơn

chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết, nên không thuộc thẩm quyền

và phạm vi xét xử phúc thẩm.

Ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M kháng cáo nhưng không đưa ra được

chứng cứ nào mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Nên, việc Tòa án cấp sơ

thẩm xử buộc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M phải trả lại toàn bộ diện tích đất

tranh chấp cho ông Vòng Cắm S và bà Nguyễn H, là có căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đất tranh chấp

ngày 13.4.2018 của Tòa án tỉnh BT thì trên diện tích đất tranh chấp vợ chồng bị

đơn có rào tôn kẽm cũ ở phía Nam giáp với đường Lê Hồng phong, bên trong đất bị đơn đặt chuồng gà làm bằng cây gỗ, thả gà trên đất và làm mái tôn nhà dưới sang đất tranh chấp 0,4 m. Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không buộc bị đơn tháo gỡ, di dời tài sản trên đất, mà chỉ buộc bị đơn trả lại đất cho nguyên đơn là thiếu sót. Hơn nữa, địa chỉ 24 Lê Hồng Phong là địa chỉ nơi ở của nguyên đơn, chứ không phải địa chỉ đất tranh chấp; nhưng tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả đất tại 24 Lê Hồng Phong là có sự nhầm lẫn. Nên cấp phúc thẩm sửa phần này của Bản án sơ thẩm.

Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M cũng như

đề nghị của Luật sư sẽ không được chấp nhận; bản án sơ thẩm vì vậy sẽ bị sửa như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BT tại phiên tòa phúc thẩm.

Do sửa án sơ thẩm, nên ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M không phải chịu

án phí dân sự phúc thẩm; hoàn trả tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M.

Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị

kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M; sửa bản án

dân sự sơ thẩm số 23/2017/DS-ST ngày 26/10/2017 của Tòa án nhân dân huyện BB:

Áp dụng: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều

39, Điều 14 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự ; Điều 100, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai 2013; Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án ngày 27/02/2009; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn

H.

- Buộc ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M phải tháo gỡ, di dời toàn bộ tài sản

của bị đơn trên đất tranh chấp để trả lại diện tích đất thổ cư đo đạc thực tế 79,3 m2 , thuộc thửa đất số 300/79,7 m2, tờ bản đồ số 07, tọa lạc tại thôn HL, xã HN, huyện BB, tỉnh BT cho ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H; theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BM 566450, do Ủy ban nhân dân huyện BB cấp ngày 28/3/2013 đứng tên ông Vòng Cắm S, bà Nguyễn H.

Đất tranh chấp có tứ cận:

Phía Đông: Giáp nhà ông Vòng Lầm Hếnh.

Phía Tây: Giáp nhà ông Lỷ Nhật S.

Phía Nam: Giáp đường Lê Hồng Phong

Phía Bắc: Giáp nhà ông Vòng Lầm Hếnh

(Kèm theo sơ đồ vị trí đất tranh chấp).

- Ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị M không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Hoàn trả 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm cho ông Lỷ Nhật S, bà Hà Thị

M, theo Biên lai thu tiền số 0015538 ngày 12.12.2017 của Chi cục Thi hành án

dân sự huyện BB.

- Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng

cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi

hành án dân sự, sửa đổi bổ sung năm 2014, thì người thi hành án dân sự, người

phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án dân sự, quyền yêu cầu

thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án, theo quy định

tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân

sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 24.9.2019.

Cỡ chữ