vanban.org

Bản án 74/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh An Giang Tuyên án 21/06/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Ph và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2017. Bị cáo Võ Văn Ph phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Hành trình vụ án
Sơ thẩm Bản án 06/2018/HSST Tuyên án 30/03/2018
Phúc thẩm — đang xem Bản án 74/2018/HSPT Tuyên án 21/06/2018

Hành trình ghép tự động từ trích dẫn giữa các bản án đã công bố — có thể chưa đủ mọi giai đoạn của vụ án.

Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Văn P phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Ph và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 75/2018/HS-PT
Ngày : 21- 6 -2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Ngọc Sơn

Các Thẩm phán:

1. Ông Nguyễn Văn Sơn

2. Ông Trần Hoàng Vũ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Nhuần – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2018/TLPT-HS ngày 07/5/2018 đối với bị cáo Võ Văn Ph do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HSST ngày 30/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Bị cáo có kháng cáo:

Võ Văn Ph (Ph L), sinh năm 1984; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Phú Đ, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Phật giáo Hòa Hảo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1942 (chết năm 2016) và bà Võ Thị Ch, sinh năm 1946.

Tiền án, tiền sự: không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/11/2017 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

(Ngoài ra, còn có người bị hại không có kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 29/11/2017, Võ Văn Ph đi bộ đến nhà ông Nguyễn Văn Ng để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nhà ông Ng, bị cáo thấy trong nhà mọi người đều đã ngủ nên đi bộ ra phía sau lấy chiếc đũa tre rồi đi ra nại cánh cửa trước (cửa bên trái), làm cánh cửa bậc ra, bị cáo dùng tay mở chốt cửa đi thẳng vào khu vực nhà bếp (có đèn điện quang chiếu sáng) thấy ông Ng ngủ trên võng, chị Nguyễn Thị Th (con ông Ng) và anh Huỳnh Phi L (chồng chị Th) ngủ trên giường. Bị cáo đi vào phòng bên cạnh lấy túi xách màu xanh đậm để trên bàn nhỏ bên trong có đựng một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-Neo 9 màu đồng và 01 cái ví bên trong có số tiền 370.000 đồng; tiếp tục bị cáo lấy cái IPAD Air màu trắng, để trên tủ nhựa gần đó và một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-R7 Lite, màu vàng để ở giường ngủ chị Th. Lấy xong, bị cáo để túi xách đem treo lên con bọ (dùng thắt võng) ở trước cửa nhà rồi tiếp tục trở vào lục tìm tài sản và lấy 01 bao thư màu trắng, bên trong là số tiền 19.100.000 đồng; 01 cái hộp giấy bạc màu trắng bên trong đựng vàng; 01 hộp nhựa màu đỏ bên trong có đựng 01 sợi dây chuyền (có mặt hình trái tim); 01 cái ví màu xám bên trong có đựng 01 vòng đeo tay. Lấy xong, bị cáo đem tất cả để trên giường gỗ bên trái ở gian nhà trước. Sau đó, tiếp tục vào gian bếp thì bị ông Ng thức giấc phát hiện tri hô, bị cáo bỏ chạy ra phía sau hè, cách nhà ông Ng khoảng 20 mét kiểm tra tài sản vừa trộm được và 01 cái ví màu xám bên trong có đựng 01 chiếc vòng đeo tay.

Sau đó, bị cáo đem cái IPAD Air màu trắng đến tại cửa hàng điện thoại di động Nguyễn Thanh thuộc ấp Vĩnh Th A, xã Vĩnh H, thị xã Tân C, tỉnh An Giang bán được số tiền 1.870.000 đồng; 01 chiếc vòng đeo tay trọng lượng 1,08 chỉ vàng 18kr bán tại tiệm vàng “Kim Mai” thuộc ấp 1, xã Vĩnh X, thị xã Tân C số tiền 2.246.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-R7 Lite màu vàng bán tại cửa hàng điện thoại di động “Phước Tân” thuộc ấp Trà D, xã Tân Th, thị xã Tân C số tiền 1.000.000 đồng. Riêng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-Neo 9 màu vàng đồng, bị cáo lấy sử dụng.

Cũng trong ngày 29/11/2017, bị cáo sang Casino thuộc Vương quốc Campuchia chơi đánh bạc và thua hết tiền.

Đến ngày 30/11/2017, sau khi được người thân vận động, bị cáo đến đầu thú tại Công an phường Long Thạnh, thị xã Tân Châu và tự nguyện nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO- Neo 9 màu vàng đồng.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 79/KLĐG ngày 05/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Tân, kết luận:

- 13 (mười ba) chỉ vàng 24kr, có giá trị 45.500.000 đồng;

- 3,18 chỉ vàng 18kr, có giá trị 6.360.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO- Neo 9 màu vàng đồng, có giá trị 3.133.000 đồng;

- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO-R7 Lite màu vàng, có giá trị 4.833.000 đồng;

- 01 (một) cái IPAD Air màu trắng, có giá trị 9.000.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 68.826.000 đồng (sáu mươi tám triệu tám trăm hai mươi sáu ngàn đồng).

Qua xác minh và căn cứ các chứng cứ đã thu thập được, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Tân đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Võ Văn Ph (Ph L) về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 05/CT-VKS-PT ngày 12/02/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đã truy tố bị cáo Võ Văn Ph (Ph L) về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HSST ngày 30/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang đã quyết định:

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Võ Văn Ph (Ph L) 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2017.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 05/4/2018 bị cáo Võ Văn Ph có đơn kháng cáo với yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:

- Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Võ Văn Ph kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

- Về nội dung: Án sơ thẩm đánh giá đúng tính chất vụ án, xét xử bị cáo Võ Văn Ph về tội “Trộm cắp tài sản” và tuyên phạt mức án 01 năm 06 tháng tù là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không đưa ra tình tiết nào mới làm cơ sở xem xét cho bị cáo mặc dù nhân dân ở ấp Phú Đức B có đơn yêu cầu xem xét cho bị cáo được hưởng án treo nhưng căn cứ Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 thì bị cáo không đủ điều kiện. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Phú, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Võ Văn Ph kháng cáo trong hạn luật định nên được chấp nhận để xét xử phúc thẩm. trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xét xử phúc thẩm. Tính đến ngày mở phiên tòa là ngày 21/6/2018 thì Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có hiệu lực ngày 01/01/2018; vì vậy, Hội đồng xét xử tiếp tục áp dụng để xét xử bị cáo Võ Văn Ph theo Điều luật mới của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và giải quyết các vấn đề khác trong cùng một vụ án.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo Võ Văn Ph thừa nhận đã lén lút vào nhà ông Nguyễn Văn Ng và trộm cắp tài sản có giá trị trên 50 triệu đồng như kết quả điều tra và Tòa án cấp sơ thẩm xét xử. Nay bị cáo đã bồi thường cho người bị hại xong, nên xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, hành vi của bị cáo Võ Văn Ph đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định và trừng phạt tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Võ Văn Ph thì thấy: Bị cáo là một người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Xuất phát từ việc lười lao động nhưng lại ham mê cờ bạc, muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo lợi dụng đêm khuya, lén lút vào nhà ông Nguyễn Văn Ng để trộm cắp tài sản với số tiền 68.826.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đã phạm vào tình tiết định khung tăng nặng hình phạt nên Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Khi lượng hình, Cấp sơ thẩm có xem xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt bị cáo Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù là hoàn toàn có căn cứ, tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Đây là mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, không phải là mức án nặng như bị cáo trình bày, mặc dù người dân ở ấp Phú Đức B và người bị hại Nguyễn Thị Th có đơn xin xem xét hoàn cảnh của bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo nhưng căn cứ Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP ngày 06/11/2013 thì thấy trường hợp của bị cáo Ph không thỏa mãn các điều kiện của Nghị quyết nên không được xem xét. Mặt khác, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không nêu được tình tiết giảm nhẹ nào mới so với những gì mà cấp sơ thẩm đã xét xử nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Võ Văn Ph phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; và điểm b, Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Võ Văn Ph và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Ph 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 30/11/2017.

Bị cáo Võ Văn Ph phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2018/HSST ngày 30/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ