- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Mạc văn H phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia g…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2018/HS-ST Ngày: 13/11/2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết
Các hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Xuân Hợp và bà Phạm Thị Hà
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Thái Long- Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh tham gia phiên toà: Ông Chu Văn Thi - Kiểm sát viên.
Ngày 13/11/2018, tại trụ sở Nhà văn hóa khu dân cƣ (KDC) Trần Hƣng Đạo, phƣờng Sao Đỏ, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, xét xử sơ thẩm, lƣu động, công khai vụ án hình sự thụ lý số 59/2018/TLST- HS ngày 04/ 9/2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 65/2018/QĐXXST-HS ngày 15/10/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2018/HSST-QĐ ngày 26/10/2018, đối với bị cáo:
Họ và tên: Mạc Văn H; sinh năm 1982; trú tại: KDC Nhân H, phƣờng C, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạc Văn T; con bà Đoàn Thị B; vợ là Nguyễn Thị H; có 02 con: Lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”, có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: Bà Phạm Thị B; sinh năm 1954; Nơi ĐKHKTT: KDC N, phƣờng S, thị xã C, Hải Dƣơng (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bà B:
1. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1923; trú tại: Xã Đ, huyện B, Hà Nam (Là mẹ bà B).
2. Ông Trần Đình N; Sinh năm 1946; trú tại: Số 6, đƣờng H, KDC N, phƣờng S, thị xã C, Hải Dƣơng (Là chồng bà B).
3. Anh Trần Nam L, sinh năm 1994; trú tại: Quận Đ, Hà Nội (Là con bà B).
Ngƣời đƣợc cử tham gia tố tụng: Ông Trần Đình N - Vắng mặt tại phiên tòa (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Mạc Văn H có Giấy phép lái xe hạng C số 300030306159 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 24/10/2016 (Có hiệu lực từ ngày 24/10/2016 đến ngày 14/10/2021). Sáng ngày 03/3/2018, H đƣợc ông Nguyễn Văn L, trú tại: KDC T, phƣờng C, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng giao điều khiển xe ôtô biển số đăng ký 34C-141.98, nhãn hiệu CNHTC, loại xe tải (xe của ông L) chở đất từ KDC T, phƣờng V, thị xã C vào đổ tại khu vực trƣớc cửa Siêu thị V thuộc KDC T, phƣờng S, thị xã C. Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô đi trên Quốc lộ 18A hƣớng P- S. Khi đến khu vực ngã tƣ giao cắt giữa Quốc lộ 18A với bên phải hƣớng đi là đƣờng T và bên trái là phố T đều thuộc phƣờng S, thị xã C. Khu vực ngã tƣ đƣợc lắp đặt đèn tín hiệu, biển báo hiệu. Đoạn đƣờng T tiếp giáp với Quốc lộ 18A có đặc điểm là đƣờng đôi, có giải phân cách cứng ở giữa. Theo chiều bên phải đƣờng hƣớng đƣờng T đi Quốc lộ 37 thì phần đƣờng có chiều rộng là 20,10m, đƣờng đƣợc trải bê tông nhựa tƣơng đối phẳng, có kẻ vạch sơn trắng để phân các làn đƣờng. Khi H điều khiển xe ô tô đến ngã tƣ thì lúc này các phƣơng tiện đang dừng đèn đỏ. Do có đèn báo hiệu các phƣơng tiện đƣợc phép rẽ phải nên H bật xi nhan phải và điều khiển xe ô tô đi để rẽ vào đƣờng T. Khi xe ô tô đi đƣợc khoảng 10m thì H cho xe chuyển hƣớng vào đƣờng T. Lúc này bà Phạm Thị B; sinh năm 1954; Nơi ĐKHKTT: KDC N, phƣờng S, thị xã C điều khiển xe đạp đi bên phải song song với xe của H và đi thẳng không rẽ vào đƣờng T nên khi xe ô tô của H vừa chuyển hƣớng sang đƣờng T thì phần đầu trục ốc phía ngoài bánh trƣớc bên phải xe ô tô do H điều khiển va chạm với phần bên trái gác ba ga xe đạp do bà B điều khiển làm ngƣời và xe bị ngã và đổ ra đƣờng. Bà B bị hàng bánh sau bên phải của xe ôtô chèn lên làm bà B chết tại hiện trƣờng.
Tại Kết luận giám định pháp y số 91/KLGĐ ngày 08/3/2018, Phòng kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hải Dƣơng kết luận nguyên nhân chết của bà Phạm Thị B là do: Đa vết thƣơng, chấn thƣơng (vết thƣơng dập nát toàn bộ đầu, mặt. Gãy vỡ phức tạp xƣơng bả vai và toàn bộ xƣơng sƣờn, gãy phức tạp cột sống, gãy xƣơng cánh tay xƣơng bàn tay phải, xƣơng bàn ngón tay trái).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 02 ngày 31/7/2018, Hội đồng định giá tài sản thị xã Chí Linh kết luận: 01 gác ba ga (ghế ngồi sau) xe đạp mini không rõ nhãn hiệu bị bẹp méo cong vênh còn trị giá là 20.000đ.
Tại Cáo trạng số 61/CT-VKSCL ngày 28/8/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng truy tố Mạc Văn H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay:
Bị cáo Mạc Văn H thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai tại cơ quan cảnh sát điều tra. Nay đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”; Áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 41, Điều 65 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Mạc Văn H từ 18 đến 21 tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thời gian thử thách từ 36 đến 42 tháng tính từ ngày tuyên án; cấm bị cáo Mạc Văn H hành nghề lái xe ôtô trong thời hạn từ 01 đến 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật; về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của Mạc Văn H tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trƣờng, biên bản khám nghiệm phƣơng tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định pháp y, File video của camera hành trình và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 45 phút, ngày 03/3/2018 tại đoạn đƣờng T gần ngã tƣ giao cắt với Quốc lộ 18A thuộc địa phận KDC T, phƣờng S, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng, Mạc Văn H điều khiển xe ô tô biển số 34C- 141.98 chuyển hƣớng từ Quốc lộ 18 đi sang đƣờng T do thiếu quan sát, không đảm bảo an toàn đã va chạm với xe đạp do bà Phạm Thị B điều khiển đi thẳng. Hậu quả bà Phạm Thị B chết tại hiện trƣờng, gác ba ga (ghế ngồi sau) bị bẹp méo, cong vênh (thiệt hại nhỏ). Hành vi nêu trên của Mạc Văn H đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự, bởi lẽ:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự giao thông đƣờng bộ. Đồng thời xâm phạm đến tính mạng của ngƣời khác. Đây là những khách thể mà Bộ luật hình sự đã quy định và bảo vệ. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi vô ý vì quá tự tin. Bị cáo điều khiển xe ôtô đã thiếu quan sát khi chuyển hƣớng đã vi phạm khoản 2 Điều15 Luật Giao thông đƣờng bộ. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chí Linh đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội.
Xem xét cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, thấy rằng:
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sƣ.
Bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Sau khi tai nạn xảy ra đã tự nguyện bồi thƣờng thiệt hại; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; bị hại cũng có lỗi do vƣợt đèn đỏ và đi không đúng phần đƣờng nên bị cáo H đƣợc hƣởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phƣơng cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H phạm tội trong khi hành nghề lái xe ô tô nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe ô tô trong một thời gian nhất định. Cần tạm giữ Giấy phép lái xe của bị cáo trong thời gian bị cáo bị cấm hành nghề lái xe ô tô.
Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo và những ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong, không có yêu cầu gì thêm do vậy không đặt ra giải quyết về trách nhiệm dân sự.
Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Mạc Văn H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đƣờng bộ”.
Căn cứ điểm a khoản 1, khoản 5 Điều 260, điểm b, s khoản 1và khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65, Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Mạc Văn H 18 (Mƣời tám) tháng tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Mạc Văn H cho Ủy ban nhân dân phƣờng C, thị xã C, tỉnh Hải Dƣơng để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian bị cáo chịu thử thách. Trong trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Cấm Mạc Văn H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Tạm giữ của Mạc Văn H Giấy phép lái xe hạng C số 300030306159 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hải Dƣơng cấp ngày 24/10/2016 lƣu trong hồ sơ vụ án trong thời gian bị cáo H bị cấm hành nghề lái xe ô tô.
Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Mạc Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; những ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hải Dƣơng; - VKSND thị xã Chí Linh; - Công an thị xã Chí Linh; - Sở Tƣ pháp tỉnh Hải Dƣơng; - Bị cáo; - Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại; - Lƣu hồ sơ. | TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Văn Quyết |