- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành Phúc T - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 74/2018/HS-PT Ngày: 31-8-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Ông Thái Quang Hải
Các"Thẩm"phán: Ông Nguyễn Văn Trinh
Bà Nguyễn Thị Kim Phượng
- Thư"ký"Tòa"án"ghi"biên"bản"phiên"tòa: Bà Lê Thị Cẩm Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ.
-"Đại"diện"Viện"kiểm"sát"nhân"dân"thành"phố"Cần"Thơ tham"gia"phiên"tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 31/8/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm, thụ lý số: 118/2018/TLPT-HS ngày 16/7/2018 đối với bị cáo Nguyễn Thành Phúc T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 147/2018/HS-ST, ngày 12-6-2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thành Phúc T, sinh năm: 1982.
Hộ khẩu thường trú: 29/31 đường X, phường A, quận K, thành phố Cần Thơ;
Những nơi đã cư trú: Phòng 8 Nhà nghỉ G, số 165C đường C, phường H, quận K, TP. Cần Thơ.
Nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Ngọc O; có vợ và 03 con, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2015.
Tiền án: không.
Tiền sự: Ngày 10/8/2014 Công an phường N, quận R, thành phố Cần Thơ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa đóng phạt.
Ngày 24/4/2015 Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt ngày 24/12/2017.
Luật sư Nguyễn Xuân Miền – Văn phòng luật sư Bình Minh thuộc đoàn luật sư TP. Cần Thơ bào chữa cho bị cáo.
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Thành M nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 25 phút ngày 24/12/2017, Công an phường H nhận được tin báo của quần chúng nhân dân có đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại nhà nghỉ 62 đường U, phường H, quận K, thành phố Cần Thơ nên báo cáo về Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an quận K để làm rõ.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an quận K kết hợp với Công an phường H tiến hành tuần tra khu vực nhà nghỉ 62 đường U thì phát hiện Nguyễn Thành M có biểu hiện nghi vấn về ma túy nên mời về trụ sở Công an phường H làm việc; qua khám xét khẩn cấp trên người M thu giữ 02 gói nilon không màu hàn kín bên trong chứa tinh thể không màu được dán bằng băng keo lên 02 ống tay áo M đang mặc trên người, tiền Việt Nam 500.000 đồng, 01 xe mô tô biển số 65B1-355.51, 01 điện thoại hiệu Motorola màu đen.
Tại bản kết luận giám định số 78 ngày 28/12/2017 của phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Cần Thơ kết luận: 02 gói nilon thu giữ trong người của M là Methemphetamine, có trọng lượng 0,1479 gram.
Trong quá trình điều tra, M khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy, số ma túy M giấu trong người là do M lấy trộm của Nguyễn Thành Phúc T, ngụ tại phòng số 8, nhà nghỉ G số 165C đường C, phường H, quận K. Do M nhiều lần đến đây mua ma túy và sử dụng chung ma túy với T nên biết T thường cất giấu ma túy trong phòng ở nhiều nơi nên M lấy trộm 02 gói ma túy đem lại nhà nghỉ 62 đường U, phường H quận K bán cho Nguyễn Thanh Y với giá 500.000 đồng, chưa giao được thì bị bắt. Bên cạnh đó, M có giới thiệu hai người bạn tên Mai Huy P và Ê (không rõ họ tên địa chỉ cụ thể) mua ma túy của T, M là người đi giao, lấy tiền đưa lại cho T và được T cho ma túy sử dụng chung. Ngoài ra, M còn chở Trần Thị Thanh L (bạn gái M) đến phòng trọ của T để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng ma túy, L có đưa tiền cho T (từ 30.000 đồng, 40.000 đồng đến 100.000 đồng cho một lần sử dụng) .
Từ lời khai của M, lực lượng chức năng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thành Phúc T thu giữ trong phòng gồm: 03 gói nilon không màu hàn kín chứa tinh thể không màu cất giấu trong loa vi tính dùng để nghe nhạc, 01 bình dùng hút ma túy đá, 01 chai gas mini, 02 điện thoại di động hiệu samsung và Nokia, 05 bọc hàn kín, 05 quẹt gas, 10 ống hút, 03 đoạn băng keo hai mặt. Đồng thời, yêu cầu Trần Thị Thanh L đang có mặt tại phòng trọ của T về làm việc.
Tại bản kết luận giám định số 79 ngày 29/12/2017 của phòng kỹ thuật hình sự M an thành phố Cần Thơ kết luận: 03 gói nilon thu giữ trong phòng của T là methemphetamine, có trọng lượng 0,1805 gram.
Tại cơ quan điều tra, T chỉ khai nhận bản thân nghiện ma túy và không nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Để có ma túy sử dụng, T mua của người tên Tuấn và Ê (không rõ lai lịch) mang về cùng M, L sử dụng chung, sau đó T kêu L trả tiền thuê phòng trọ của T hoặc đi mua thẻ cào điện thoại từ 30.000 đồng, 40.000 đồng đến 100.000 đồng cho một lần sử dụng.
Cơ quan điều tra chứng minh được T và M nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Thành M, Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thanh Y, Mai Huy P.
Xe mô tô biển số 65B1-355.51 và điện thoại di động hiệu Motorola qua xác minh là tài sản của Nguyễn Thành M.
Đối với tên Tuấn và Ê (người bán và người mua ma túy của T), T khai không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa tiến hành làm việc. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận K tiếp tục điều tra xử lý sau.
Đối với Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thanh Y, Mai Huy P. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận K thông báo người người nghiện về địa phương quản lý
Tại bản án số 147/2018/HS-ST ngày 12- 6-2018 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Phúc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành Phúc T 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2017.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử phạt đối với bị cáo Nguyễn Thành M, phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi tuyên án sơ thẩm, ngày 21/6/2018, bị cáo Nguyễn Thành Phúc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo. Bị cáo kháng cáo kêu oan vì bị cáo không phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Luật sư bào chữa cho bị cáo cho rằng lời khai của những người có liên quan trong vụ án còn mâu thuẫn với nhau, chưa chứng minh được bị cáo có mua bán trái phép chất ma túy. Đề nghị chuyển sang tội danh Tàng trữ trái phép chất ma túy đối với bị cáo.
Kiểm sát viên trình bày quan điểm: Cấp sơ thẩm đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất nguy hiểm về hành vi của bị cáo, đã có xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Mức hình phạt đã tuyên là tương xứng. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Quá trình tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm tuân thủ các quy định của Pháp luật, bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho những người tham gia tố tụng. Các chứng cứ tại hồ sơ đủ để kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo, cũng như để giải quyết các vấn đề có liên quan.
Bị cáo Nguyễn Thành Phúc T nhiều lần đưa ma túy cho Nguyễn Thành M bán lại cho Trần Thị Thanh L, Nguyễn Thanh Y, Mai Huy P. M mang tiền về đưa lại cho T và T cho ma túy để M sử dụng. Bị cáo cho rằng bị cáo không phạm tội mua bán trái phép chất ma túy nhưng căn cứ vào lời khai của L, Y, P thì những người nghiện này sau khi mua ma túy trả tiền trực tiếp cho M hoặc khi sử dụng xong thì mua thẻ cào điện thoại hay trả tiền thuê phòng cho T. Hành vi của bị cáo cũng thỏa đối với tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được qui định tại Điều 255 của BLHS 2015 nhưng rõ ràng ý thức của bị cáo là mong muốn bán được ma túy nên mới tổ chức cho các con nghiện sử dụng ma túy tại phòng trọ. Do vậy, Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 2 Điều 194 BLHS 1999 là có căn cứ
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý chất ma túy, bản thân là người nghiện từng được áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bị cáo có nhân thân rất xấu, đã từng bị xét xử nhiều lần về tội Trộm cắp tài sản và đã bị xử phạt hành chình về hành vi này nhưng bị cáo không hề hối cải mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Hiện nay tội phạm này còn xảy ra rất nhiều, gây ảnh hưởng đến sức khỏe; gây mất an ninh trật tự tại địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Nên cần xử phạt cho nghiêm mới đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Khi lượng hình Tòa án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo cũng không cung cấp thêm tình tiết nào mới, cũng không có căn cứ để chuyển tội danh như lời bào chữa của luật sư đối với bị cáo, nên giữ nguyên án sơ thẩm như kết luận của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS 1999; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Phúc T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt Nguyễn Thành Phúc T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/12/2017.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành.
Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - VKSND CC tại TP. Hồ Chí Minh; - VKSND TPCT; - Sở Tư pháp TP. Cần Thơ; - Trại tạm giam; - Cơ quan tố tụng quận Ninh Kiều; - Bị cáo; - Lưu. | """""""Đã"ký Thái Quang Hải |