vanban.org

Bản án 74/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án H-T"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TH XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 74/2018/HNGĐ-ST
Ngày 03-7-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TH XÃ DĨ AN, T NH B NH DƯ NG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Ngọc Diệp

2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Quyết – Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 03/7/2018 tại Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 523/2018/TLST-HNGĐ ngày 29/5/2018 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 84/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/6/2018 giữa các đƣơng sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1992;

Thƣờng trú: Xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Nông Thanh T, sinh năm 1993;

Thƣờng trú: xã C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng.

Tạm trú: 737/8 khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

Chị Lê Thị H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, anh Nông Thanh T có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 22/5/2018 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nông Thanh T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2012 ngày 10/10/2012. Thời gian đầu, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc nhƣng từ năm 2017 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi vả và bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng bắt đầu sống ly thân từ đầu năm 2017 đến nay.

Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh T.

Về con chung: Chị Lê Thị H khai vợ chồng có một con chung: Nông Quốc K, sinh ngày 24/01/2013. Chị Lê Thị H yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Nông Quốc K, tự nguyện không yêu cầu anh Nông Thanh T cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay, chị Lê Thị H đang làm việc xa nhà nên gửi cháu K cho mẹ ruột tạm thời nuôi dƣỡng chăm sóc tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chị H làm việc tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, có thu nhập 10.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh Nông Thanh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nông Thanh T thống nhất với trình bày của chị Lê Thị H về thời gian tìm hiểu, đăng ký kết hôn, những mâu thuẫn vợ chồng và con chung. Hiện nay vợ chồng đã sống ly thân đƣợc hai năm. Trƣớc yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H thì anh Nông Thanh T đồng ý.

Về con chung: Anh T yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng cháu Nông Quốc K, tự nguyện không yêu cầu chị Lê Thị H cấp dƣỡng nuôi con. Hiện nay, cháu K đang đƣợc mẹ ruột chị H nuôi dƣỡng chăm sóc tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Anh T làm việc tại Công ty cổ phần tƣ vấn thiết kế và đầu tƣ xây dựng A, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng, có thu nhập 7.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa, Tòa án và nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn là đúng quy định. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN Đ NH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về điều kiện thụ lý vụ án: Căn cứ vào đơn khởi kiện của chị Lê Thị H thì đây là vụ án tranh chấp ly hôn, nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn có đăng ký tạm trú tại địa chỉ số 737/8, khu phố Đ, phƣờng D, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng nên Tòa án nhân dân thị xã D thụ lý giải quyết theo quy định tại Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về sự vắng mặt của các đƣơng sự: Ngày 01/6/2018, nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H và anh Nông Thanh T tự nguyện sống chung với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2012 ngày 10/10/2012 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

Chị H và anh T đều thống nhất từ năm 2017, vợ chồng có nhiều mâu thuẫn vì tính tình không hợp nhau, thƣờng xuyên cãi vả và bất đồng quan điểm sống. Từ đầu năm 2017 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân. Chị H đang sống và làm việc tại tỉnh Bắc Ninh, anh T sống và làm việc tại tỉnh Bình Dƣơng. Trong quá tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, anh T đồng ý ly hôn với chị H nên ghi nhận.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Nông Quốc K, sinh ngày 24/01/2013. Chị H và anh T đều có yêu cầu đƣợc nuôi dƣỡng con chung và không ai đặt ra yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con. Xét thấy hiện nay anh T và chị H đều đi làm xa nhà, cháu K đang tạm thời đƣợc gửi tại nhà bà ngoại tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa, điều kiện học tập và sinh sống đã ổn định. Chị H đang làm việc tại tỉnh Bắc Ninh, có thu nhập ổn định, có thể thƣờng xuyên về nhà chăm sóc quan tâm con; Anh T làm việc tại tỉnh Bình Dƣơng, đang thuê nhà ở, điều kiện thăm nom chăm sóc con cũng gặp khó khăn hơn. Theo lời thừa nhận của anh T và chị H thì gia đình anh T đang sinh sống hiện nay thuộc tỉnh vùng cao (thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng) môi trƣờng sống xung quanh có ngƣời nghiện chất kích thích (ma túy) nên có thể ảnh hƣởng xấu đến quá trình phát triển thể chất và tinh thần đối với cháu K. Do đó, chị H yêu cầu đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng con chung là cháu Nông Quốc K là phù hợp với các Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị H không yêu cầu cấp dƣỡng nuôi con, xét đây là ý chí tự nguyện của chị H nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng.

[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

Căn cứ khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị H đƣợc ly hôn với anh Nông Thanh T. (Giấy chứng nhận kết hôn số 28, quyển số 01/2012 ngày 10/10/2012 do UBND thị trấn H, huyện T, tỉnh Cao Bằng cấp).

2. Về con chung: Buộc anh Nông Thanh T giao con chung cháu Nông Quốc K, sinh ngày 24/01/2013 cho chị Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dƣỡng.

Anh Nông Thanh T không có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau ly hôn, anh Nông Thanh T và chị Lê Thị H đều có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trƣờng hợp anh T lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hƣởng xấu đến việc chị H nuôi con thì chị H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Vì lợi ích về mọi mặt của con khi một hoặc cả hai bên đƣơng sự có yêu cầu, Tòa án sẽ quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và việc cấp dƣỡng.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Đƣơng sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0019484, ngày 29/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Chị Lê Thị H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn.

6. Bị đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ