vanban.org

Bản án 73A/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X là vợ chồng.

Về con chung: Anh Lê Nhựt T1 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007; Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015. Chị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T1 không có yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Nhựt T - Phan Thị X"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73A/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 21-8-2018
V/v tranh chấp HNGĐ - Ly hôn,
nuôi con và chia tài sản.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Văn Đô;

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Hồ Thị Mai Hƣơng;

2. Ông Phạm Phƣớc Tâm;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 423/2018/TLST-HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 02/8/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Nhựt T1, sinh năm 1986;

Địa chỉ: Khóm Mỹ T2, thị trấn Mỹ T3, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn:

Chị Phan Thị X, sinh năm 1984.

Địa chỉ: Khóm Mỹ T2, thị trấn Mỹ T3, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 30/5/2018; biên bản hòa giải ngày 19/7/2018, nguyên đơn anh Lê Nhựt T1 trình bày:

- Về hôn nhân: Anh T1 và chị X có tổ chức đám cưới và sống chung với nhau vào năm 2002, vợ chồng không có đăng có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng sống chung với nhau hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cự cãi, bất đồng ý kiến trong gia đình. Chị X tự ý bỏ nhà đi đến nay cũng ít quan tâm đến chồng con, khoảng cách ngày càng X và không tìm được tiếng nói chung. Vợ chồng đã sống ly thân đã 01 năm nay, không ai còn quan tâm gì đến nhau, tình cảm ngày càng nhạt dần, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc và tình cảm không thể nào hàn gắn như trước. Nay anh T1 yêu cầu được ly hôn với chị X.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007 và Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015, hiện đang sống chung với cha. Khi ly hôn, anh T1 yêu cầu được nuôi 03 con chung, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Tại biên bản hòa giải ngày 19/7/2018, bị đơn chị Phan Thị X trình bày:

- Về hôn nhân: Chị X thừa nhận thời gian chung sống với nhau, cũng như việc vợ chồng không có đăng ký kết hôn như anh T1 trình bày. Vợ chồng sống chung do bất đồng về quan điểm trong cuộc sống dẫn đến mâu thuẫn với nhau là đúng. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6/2017 đến nay. Nay vợ chồng không xây dựng được hạnh phúc nên chị X cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của anh T1.

- Về con chung: Có 03 con chung tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007; Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015, hiện đang sống chung với cha. Khi ly hôn, chị X đồng ý giao con chung cho anh T1 nuôi dưỡng, chị X không cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ do đương sự cung cấp:

- Giấy khai sinh Lê Ngọc T4 (Bản sao);

- Giấy khai sinh Lê Sĩ V1 (Bản sao);

- Giấy khai sinh Lê Sỉ V2 (Bản sao).

Các đương sự thống nhất các tài liệu trong hồ sơ là đúng theo biên bản phiên họp tiếp cận và công khai chứng cứ ngày 19/7/2018.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1.Về tố tụng:

Anh Lê Nhựt T1 có đơn yêu cầu được ly hôn với chị Phan Thị X. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật trong vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân gia đình - Ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung”.

Chị Phan Thị X là người bị kiện có địa chỉ tại khóm Mỹ T2, thị trấn Mỹ T3, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào Khoản 1 Điều 35 và Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

Anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X.

2. Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân:

Anh T1 và chị X thống nhất trình bày sống chung với nhau vào năm 2002 và thừa nhận hai bên đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể tiếp tục duy trì đời sống vợ chồng với nhau. Mặc dù, việc sống chung của anh T1 và chị X đều được hai bên thừa nhận là tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật để được công nhận là vợ chồng. Do đó, không phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình. Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định “…Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng…”. Vì vậy, không công nhận anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X là vợ chồng.

- Về con chung: Anh T1 và chị X thừa nhận có 03 con chung tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007; Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015, hiện đang sống chung với anh T1. Khi ly hôn, anh T1 yêu cầu được nuôi 03con chung, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con. Căn cứ vào bản tự khai, cháu Lê Sĩ V1 và Lê Sỉ V2 có nguyện vọng được tiếp tục sống với anh T1. Đồng thời, anh T1 và chị X thỏa thuận như sau:

Anh Lê Nhựt T1 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007; Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015. Chị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T1 không có yêu cầu.

Chị Phan Thị X có quyền và nghĩa thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Xét thấy đây là sự tự thỏa thuận tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận sự tự nguyện.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Anh T1 và chị X trình bày không có nợ chung.

Về án phí: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án anh T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh T1 đã nộp theo Biên lai số 0000470 ngày 03/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14; Khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí - lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận anh Lê Nhựt T1 và chị Phan Thị X là vợ chồng.

2. Về con chung:

Anh Lê Nhựt T1 được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên tên Lê Sĩ V1, sinh ngày 30/9/2003; Lê Sỉ V2, sinh ngày 13/9/2007; Lê Ngọc T4, sinh ngày 15/8/2015. Chị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung do anh T1 không có yêu cầu.

Chị Phan Thị X có quyền và nghĩa thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.

3. Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

4. Về nợ chung: Không có.

Về án phí: Anh Lê Nhựt T1 phải nộp 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh T1 đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0000470 ngày 03/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ