- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vang Dua N - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2026/HSST. Ngày: 22 - 4 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lường Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đặng Xuân Tư;
Bà Lý Thị Vinh.
- Thư ký phiên toà: Bà Lò Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Bạc Thị Thoản - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2026/HSST, ngày 02/4/2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2026/QĐXXST-HS, ngày 10/4/2026 đối với bị cáo:
Vàng Dúa N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01/01/1969 tại xã LH, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản Pú C, xã LH, tỉnh Sơn La; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; dân tộc: Mông; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Đạo tin lành; con ông: Vàng Nhìa S (đã chết) và bà Sùng Thị K, sinh năm: 1947; bị cáo có vợ: Mùa Thị C, sinh năm 1970 và 06 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm: 2012; tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị bắt ngày 30/12/2025. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 30 phút, ngày 30/12/2025, tại khu vực Bản Pú C, xã LH, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã LH, tỉnh Sơn La phát hiện và bắt quả tang: Vàng Dúa N có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ vật chứng gồm:
04 gói nilon màu hồng, bên trong mỗi gói đều có chứa chất bột cục màu trắng nghi là Heroine (Vàng Dúa N khai là Heroine), có khối lượng 0,16 gam, trích toàn bộ 0,16 gam, ký hiệu lần lượt từ N1 – N4 làm mẫu vật gửi giám định chất ma tuý và 01 gói nilon màu hồng, bên trong có một viên nén màu hồng nghi là ma tuý tổng hợp (Vàng Dúa N khai là ma tuý tổng hợp), có khối lượng 0,11gam, rút toàn bộ viên nén màu hồng có khối lượng 0,11 gam ký hiệu NA1 làm mẫu vật gửi giám định.
Mở rộng điều tra, xác định: Ngày 30/12/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số D437/LKX-CSMT đối với chỗ ở của Vàng Dúa N tại Bản Pú C, xã LH, tỉnh Sơn La. Qúa trình khám xét, tạm giữ được các đồ vật gồm:
- 01 khẩu súng chiều dài 95cm, nòng súng và thân súng bằng kim loại dài 75cm, báng gỗ dài 45cm, tay cầm bằng nhựa cứng dài 11cm, rộng 5 cm, đường kính nòng súng 1cm. Tại thân súng có ghi chữ số ZX – 9988, đã qua sử dụng cũ.
- 06 viên đạn bằng kim loại hình trụ màu vàng, chiều dài 1cm, đường kính 0,5cm, đầu vỏ đạn có 06 (sáu) cạnh nhọn, đáy vỏ đạn dạng tròn.
- 17 viên kim loại hình tròn màu nâu.
- 01 lọ gỗ cao 8,5cm, đường kính rộng 3,5cm, đỉnh bình rộng 2cm, đường kính 4cm, bên trong chứa nhiều viên kim loại nhỏ hình cầu, màu bạc.
- 01 lọ nhựa màu nâu, nắp lọ màu trắng cao 8,5cm, đáy bình rộng 4cm, nắp bình rộng 2,5 cm bên trong chứa bột màu đen.
Tại bản kết luận giám định số 177/KL-KTHS ngày 04/01/2026 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu ký hiệu N1, N2, N3, N4 gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là N1=0,05 gam, N2 = 0,04 gam, N3 = 0,04 gam, N40,03 gam. Mẫu ký hiệu NA1 gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine. Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,11 gam”. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Tại bản Kết luận giám định số: 193/KL-KTHS ngày 06 tháng 01 năm 2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận:
"1. Mẫu gửi giám định ký hiệu NV1 là súng tự chế (có tính năng, tác dụng, khả năng gây sát thương như súng quân dụng); thuộc vũ khí quân dụng (quy định tại Điểm g, khoản 2, Điều 2 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ); Súng vẫn còn sử dụng để bắn được.
2. Đối với mẫu gửi giám định ký hiệu NV2, NV3, NV4
Mẫu gửi giám định ký hiệu NV2 là đạn tự chế (chỉ tạo tiếng nổ và áp suất, không có khả năng gây sát thương); không thuộc vũ khí quân dụng. Đạn vẫn còn sử dụng để bắn được;
Mẫu gửi giám định ký hiệu NV3 là đạn sử dụng phù hợp cho khẩu súng ký hiệu NV1, thuộc vũ khí quân dụng. Đạn vẫn còn sử dụng để bắn được;
Mẫu gửi giám định ký hiệu NV4 không phải là đạn quân dụng, vì không sử dụng phù hợp cho khẩu súng ký hiệu NV1;
Không đủ cơ sở kết luận mẫu gửi giám định ký hiệu NV5 có phải là thuốc súng không; vì vượt quá khả năng giám định".
Tại bản Kết luận giám định số: 618/KL-KTHS ngày 16/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội, kết luận: "Chất bột màu đen bên trong 01 lọ nhựa màu nâu, nắp màu trắng, cao 8,5 cm, đáy rộng 4 cm, nắp rộng 2,5 cm là thuốc nổ đen, khối lượng: 20,877 gam Thuốc nổ đen là thuốc nổ yếu thường được dùng làm liều phóng trong các loại đạn, trong dây cháy chậm...và thuộc nhóm vật liệu nổ và hiện còn sử dụng được".
Tại cơ quan điều tra bị cáo Vàng Dúa N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 30/12/2025, Vàng Dúa N đi bộ một mình từ nhà đến bản N, xã LH, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy về sử dụng. Đến nơi gặp và hỏi mua được của một người nam giới (Vàng Dúa N không biết tên tuổi, địa chỉ nơi cư trú) 01 gói ma túy gói bằng nilon màu hồng, bên trong có chứa một ít Heroine và 02 viên hồng phiến với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Vàng Dúa N cầm gói ma túy đi vào bụi cây ven đường san ra một ít Heroine và lấy 01 viên hồng phiến sử dụng bằng hình thức đốt, hít; sử dụng xong, số Heroine còn lại Vàng Dúa N chia ra thành 04 gói nhỏ rồi gói lại bằng nilon màu hồng; 01 viên hồng phiến Vàng Dúa N cũng gói lại bằng nilon màu hồng rồi cất cả 05 gói ma túy trên vào túi quần phía trước bên trái Vàng Dúa N đang mặc rồi đi về nhà. Khi Vàng Dúa N về đến khu vực Bản Pú C, xã LH, tỉnh Sơn La thì gặp tổ công tác Công an xã LH, tỉnh Sơn La yêu cầu kiểm tra ma túy. Quá trình kiểm tra phát hiện bắt quả tang Vàng Dúa N về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS, ngày 02/4/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố bị cáo Vàng Dúa N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La trong phần tranh tụng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vàng Dúa N về điểm, điều, khoản và tội danh trên.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vàng Dúa N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Vàng Dúa N mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vàng Dúa N.
Miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Dúa N.
Ý kiến của bị cáo Vàng Dúa N: Nhất trí như bản luận tội của Viện kiểm sát, xin giảm nhẹ hình phạt, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên toà Vàng Dúa N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La. Bị cáo khẳng định khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Bị cáo Vàng Dúa N thừa nhận: Ngày 30/12/2025 bị cáo bị phát hiện và bắt quả tang cất giữ trái phép trong người 0,16 gam chất ma tuý, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphene và 0,11 giam ma tuý loại Methamphetamine. Tổng khối lượng hai chất ma tuý bị cáo cất giữa là 0,27 gam tại khu vực Pú Chứn, xã LH, tỉnh Sơn La. Mục đích cất giữ để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo Vàng Dúa N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định chất ma tuý và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Từ những căn cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/12/2025 bị cáo Vàng Dúa N đã có hành vi cất giấu 0,27 gam ma tuý, loại Heroine và Methamphetamine mục đích để bản thân sử dụng của bị cáo Vàng Dúa N đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai cho bị cáo.
. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Vàng Dúa N không có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ và nhân thân của bị cáo để quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo. Căn cứ khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự
. Về vật chứng:
Đối với 05 mảnh nilon màu hồng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu được đựng trong một phong bì thư bằng giấy màu trắng, xung quanh có viền xanh đỏ rồi dán kín, tại mép dán phong bì đóng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La được lưu hồ sơ vụ án, tiếp tục được lưu giữ theo quy định.
. Về vấn đề khác liên quan đến vụ án:
Đối với người nam giới Vàng Dúa N khai là người bán ma tuý cho Vàng Dúa N vào ngày 30/12/2025 tại khu vực bản N, xã LH, tỉnh Sơn La với giá 200.000 đồng. Do Vàng Dúa N không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho Vàng Dúa N ở đâu. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La không điều tra xử lý là có căn cứ.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vàng Dúa N sau khi mua được ma tuý vào ngày 30/12/2025. Cơ quan điều tra đã tiến hành thử ma túy thông qua nước tiểu, kết quả Vàng Dúa N dương tính với chất ma túy. Quá trình điều tra xác định Vàng Dúa N không có tiền sự, không đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật phòng, chống ma túy, không thuộc chủ thể quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Do đó việc của bị cáo Vàng Dúa N sử dụng ma tuý không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của Vàng Dúa N. Ngày 07/01/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã khởi tố Vàng Dúa N về tội: Tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng, quy định tại khoản 1, Điều 304 Bộ luật hình sự. Ngày 26/02/2026 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La đã ra quyết định tách vụ án và Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Sơn La đã chuyển vụ án Vàng Dúa N bị khởi tố về tội: Tàng trữ trái phép vụ khí quân dụng, quy định tại khoản 1, Điều 304 Bộ luật hình sự đến Cơ quan Anh ninh điều tra Công an tỉnh Sơn La để điều tra theo thẩm quyền là có căn cứ chấp nhận.
. Về án phí: Bị cáo Vàng Dúa N thộc diện hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, bị cáo xin được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm. Cần miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
. Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp, nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về Điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt: Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Vàng Dúa N phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Xử phạt bị cáo Vàng Dúa N 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/12/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về Án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Miễn nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Dúa N.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Vàng Dúa N được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22 tháng 4 năm 2026)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND khu vực 2 – Sơn La (02); - Công an tỉnh Sơn La; - THA hình sự tỉnh Sơn La; - THADS tỉnh Sơn La; - Trại giam; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |