- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Mạnh H - tang trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 73/2026/HSPT Ngày: 29-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Chu Thái Hà
Các Thẩm phán:
Bà Trần Thị Sâm
Ông Đinh Huy Lưỡng
- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hường - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Nhâm - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 92/2026/TLPT-HS ngày 17- 4 - 2026 đối với bị cáo Đặng Mạnh H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 50/2026/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
- Bị cáo có kháng cáo:
Đặng Mạnh H, sinh ngày 28-03-1985 tại phường M, tỉnh Ninh Bình; số căn cước công dân: 036085008302; nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố số 4, phường M, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ dân phố số 54 phường M, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Công Tvà bà Trần Thị L; bị cáo có vợ là Phạm Thị Thu P (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07-12-2016 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định (Nay là Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình) xử phạt 24 tháng tù về tội “ Cướp giật tài sản”; ngày 23-7-2021 bị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (Nay là TAND khu vực 7 – Ninh Bình) xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14-8-2025, đến ngày 23-8-2025 chuyển tạm giam; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 03 Công an tỉnh Ninh Bình; Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 13 - 8 - 2025, tổ công tác Công an phường Mỹ Lộc phát hiện tại nhà của Đặng Mạnh H ở tổ dân phố số 5, phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ tại mặt bàn uống nước 02 cốc thủy tinh hình tròn được quấn lại với nhau bằng băng dính màu vàng, xanh trong có 02 túi ni lon màu trắng bên trong có hạt tinh thể rắn màu trắng ( Đã niêm phong ký hiệu M1); 01 ống thủy tinh hình trụ đường kính 15cm bị vỡ có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (Đã niêm phong ký hiệu M2); Thu giữ 01 chai nhựa loại chai C2 có nắp màu xanh, trên nắp có gắn 02 ống nhựa. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Mạnh H và thu giữ mẫu nước tiểu của H (niêm phong ký hiệu M3). Ngoài ra còn thu giữ của H 01 điện thoại di động màu đen có dòng chữ INOI bên trong lắp 01 sim số thuê bao 0789113021 (Đã niêm phong ký hiệu A1). Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Mạnh H ở tổ dân phố số 5, phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình không thu giữ đồ vật, tài sản gì.
Bản kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 19-8-2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất rắn dạng tỉnh thể màu trắng có tổng khối lượng 0,424 gam được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine. Mẫu chất rắn dạng tỉnh thể màu trắng bám dính trong một ống thủy tinh được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine. Không xác định được khối lượng mẫu chất bám dính. Methamphetamine là chất ma túy thuộc Danh mục chất ma túy, STT: 247, Danh mục: IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25-8-2022 của Chính phủ.
Tại bản kết luận giám định số 553/KL-KTHS ngày 19-8-2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Có tìm thấy chất Methamphetamine trong 01 mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M3 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 1708/KL-KTHS ngày 31-10-2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Không phục hồi, trích xuất được dữ liệu lịch sử cuộc gọi, tin nhắn SMS thời gian từ 00 giờ 00 đến 23 giờ 50 phút ngày 13-8-2025 trong mẫu cần giám định (ký hiệu A1).
Tại Cơ quan điều tra, lời khai ban đầu Đặng Mạnh H khai nhận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 13-8-2025, H đi bộ từ nhà đến đoạn Km4 Quốc lộ 21, phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình, gọi điện thoại từ số điện thoại 0789113021 của mình đến số điện thoại 0822997166 cho một người tên là Tập (Hà không biết tên tuổi đầy đủ, địa chỉ cụ thể) hỏi mua 500.000 đồng ma túy. Tập đồng ý, hẹn H đi đến khu vực tổ dân phố số 4, phường Mỹ Lộc trả tiền và lấy ma túy. Khi đến nơi H gặp một người phụ nữ (không biết tên, tuổi địa chỉ) và H đã đưa cho người này số tiền 1.000.000 đồng (gồm tiền mua ma túy 500.000 đồng và trả nợ Tập 500.000 đồng) rồi H đi sang nhà anh Đặng Văn Chung cạnh đó ngồi chờ thì nghe có tiếng nói vọng vào nói là hàng để ở bờ tường, không ra lấy gió thổi bay mất. H đi ra nhìn thấy 01 mảnh giấy vệ sinh được vo tròn để trên bờ tường, mở ra xem thấy có nhiều hạt tinh thể màu trắng. H cầm gói ma túy về nhà, cho vào 02 túi ni lon màu trắng. H lấy một ít để sử dụng, số còn lại cất trong 02 cốc thủy tỉnh hình tròn được quấn với nhau bằng băng dính màu vàng xanh để trên mặt bàn uống nước. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, khi H đang ở nhà thì bị công an phường Mỹ Lộc phát hiện bắt giữ.
Đến ngày 24-12-2025, H thay đổi lời khai, không thừa nhận số ma túy đã thu giữ là của mình, không nhận hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0822997166, thuê bao chính chủ mang tên Trần Trường Giang, sinh năm 1980, trú tại 10/73/166 Điện Biên, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình. Anh Giang khai không sử dụng số điện thoại trên và không quen biết người nào tên Đặng Mạnh H.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đặng Mạnh H, ngày 13-8-2025, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Đặng Mạnh H thừa nhận hành vi đi mua ma túy về sử dụng vào ngày 13-8-2025. Khi mua ma túy về bị cáo có nhặt được 02 túi nilong nhỏ, bị cáo đã đổ ma túy mua được vào 01 túi, 01 túi còn lại bị cáo chưa sử dụng gì và dự định để đựng cúc áo. Sau đó bị cáo đã sử dụng gần hết số ma túy, phần còn lại không nhiều như kết luận giám định đưa ra. Theo bị cáo, số ma túy là vật chứng vụ án (Ký hiêu M1) đã được cho thêm vào, ai là người cho vào thì bị cáo không biết. Vì vậy, số ma túy là vật chứng của vụ án không phải là của bị cáo.
- Người chứng kiến - ông Đặng Ngọc Hân khai: Đã được cơ quan Công an mời đến chứng kiến việc bắt quả tang, thu giữ và niêm phong các tang vật là vật chứng vụ án. Ông Hân xác định hình ảnh 02 gói ma túy theo bản ảnh tại bút lục số 28 là 02 gói ma túy Cơ quan Công an đã thu giữ và niêm phong tại nhà bị cáo vào đêm ngày 13-8-2025 .
* Từ những tình tiết nêu trên; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 50/2026/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đã quyết định:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, năm 2025; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Đặng Mạnh H 03 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14-8-2025.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp tiền án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo.
Ngày 24/3/2026, bị cáo Đặng Mạnh H có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu ốm đau, có con đang đi học không có người chăm sóc, không có vợ, là lao động chính trong gia đình nên xin Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về chăm lo cho gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Bị cáo Đặng Mạnh H thay đổi nội dung kháng cáo cho rằng nội dung trong đơn kháng cáo không phản ánh đúng yêu cầu của bị cáo; Đơn kháng cáo do cán bộ quản giáo đọc cho bị cáo khác đang bị tạm giam cùng viết hộ, bị cáo không phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, không xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diệnViện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu quan điểm: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Qua nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo 03 năm 09 tháng tù là phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo không xuất trình thêm các tài liệu, tình tiết gì mới để làm căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, ngoan cố không thừa nhân hành vi phạm tội. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Do vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS, đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí hình sự phúc thẩm để nghị HĐXX giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhân hành vi mua trái phép chất ma túy vào ngày 13-8-2025, đã sử dụng trái phép chất ma túy; Không thừa nhận khối lượng ma túy mà CQCSĐT đã giám định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung đơn kháng cáo:
Đối với lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho rằng: Đơn kháng cáo do cán bộ quản giáo đọc cho bị cáo khác đang bị tạm giam viết hộ, nội dung đơn không phản án đúng nguyện vọng của bị cáo, bị cáo không phạm tội, không xin giảm nhẹ hình phạt - HĐXX thấy:
Tại đơn kháng cáo ngày 24/3/2026, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng do hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ già yếu ốm đau, có con đang đi học không có người chăm sóc, không có vợ, là lao động chính trong gia đình nên xin Tòa án xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về chăm lo cho gia đình, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội. Đơn kháng cáo do anh Ngô Tiến Dũng hiện đang bị tạm giam tại buồng số 9-K712 Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Ninh Bình viết hộ bị cáo, đã đọc lại nội dung kháng cáo cho bị cáo nghe, bị cáo đã điểm chỉ. Đơn kháng có xác nhận của cán bộ quản giáo, giám thị Trại tạm giam số 3 nên việc bị cáo cho rằng đơn kháng cáo do cán bộ quản giáo đọc cho bị cáo khác đang bị tạm giam viết hộ, không phản án đúng nguyện vọng của bị cáo là không có căn cứ.
Về quan điểm của Đại diện VKS, của bị cáo tại phần thủ tục tranh tụng: HĐXX thấy việc tranh luận, đối đáp đúng trình tự quy định của pháp luật, các bên đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tranh tụng. Quan điểm của các bên đã được HĐXX cân nhắc, đánh giá khi nghị án. Quan điểm của Đại diện VKS về việc kết luận hành vi phạm tội, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thấy :
Việc bị cáo không thừa nhận số lượng ma túy đã thu giữ khi bị bắt không phải của bị cáo là không có cơ sở. Hành vi phạm tội của bị cáo đã được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL08); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ( BL11); Bản ảnh (BL14; 28); Kết luận giám định ( BL39); Các lời khai ban đầu của bị cáo; lời khai của người chứng kiến.
Từ những nhận định neu trên, HĐXX thấy đã có đủ căn cứ để khẳng định:
Khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 13-8-2025, tổ công tác Công an phường Mỹ Lộc phát hiện tại nhà của Đặng Mạnh H ở tổ dân phố số 5, phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên đã tiến hành kiểm tra, thu giữ tại mặt bàn uống nước 02 cốc thủy tinh hình tròn được quấn lại với nhau bằng băng dính màu vàng, xanh trong có 02 túi ni lon màu trắng bên trong có hạt tinh thể rắn màu trắng (đã niêm phong ký hiệu M1); 01 ống thủy tinh hình trụ đường kính 15cm bị vỡ có bám dính các hạt tinh thể màu trắng (đã niêm phong ký hiệu M2); 01 chai nhựa loại chai C2 có nắp màu xanh, trên nắp có gắn 02 ống nhựa (đã thu giữ). Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đặng Mạnh H và thu giữ mẫu nước tiểu của H (niêm phong ký hiệu M3).
Bản kết luận giám định số 552/KL-KTHS ngày 19-8-2025 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất rắn dạng tỉnh thể màu trắng có tổng khối lượng 0,424 gam được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định đều là ma túy, loại ma túy: Methamphetamine. Mẫu chất rắn dạng tỉnh thể màu trắng bám dính trong một ống thủy tinh được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại ma túy Methamphetamine.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận số ma túy Methamphetamine có tổng khối lượng là 0,424 gam là của bị cáo, với lý do bị cáo đã dùng gần hết nên không thể còn nhiều như vậy. Tuy nhiên, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của người chứng kiến tại Coq quan CSĐT, tại phiên tòa sơ thẩm đều thể hiện số ma túy bị niêm phong là thu giữ tại nhà bị cáo, đã đủ căn cứ xác định bị cáo đã tàng trữ khối lượng ma túy như kết luận giám định. Vì vậy việc bị cáo cho rằng số ma túy không phải của bị cáo là không có cơ sở.
Hành vi của bị cáo Đặng Mạnh H đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tang trữ trái phép chất ma túy” - Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.
Trong quá trình tố tụng ở cấp sơ thẩm bị cáo thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi phạm tội; Không nhận Kết luận Điều tra, Cáo trạng, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS là đúng quy định của pháp luật.
Xét kháng cáo của bị cáo, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo tiếp tục khai quanh co, cho rằng bị cáo có mua ma túy về dùng nhưng đã dùng gần hết và không thể còn nhiều như kết luận giám định, không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
HĐXX thấy: Việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS và tuyên mức hình phạt tại Bản án số 50/2026/HSST ngày 13 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo là đúng người, đúng tộ, đúng pháp luật, tương xúng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Vì vậy, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Đặng Mạnh H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Mạnh H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 50/2026-HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình đối với bị cáo Đặng Mạnh H.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47 của Bộ luật Hình sự ; Điều 106; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Đặng Mạnh H 03 năm 09 tháng (Ba năm chín tháng) tù, thời hạn tù tính từ ngày 14-8-2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Mạnh H, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSND, TAND khu vực 7; - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng khác; - Phòng GĐKT-THAHS; - Lưu HSVA; VP THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Sâm Đinh Huy Lưỡng | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Chu Thái Hà Chu Thái Hà |