- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn L - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:73/2026/HS-ST Ngày: 13 - 05 -2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Phương
Ông Trần Trung Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 05 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2026/TLST-HS ngày 01 tháng 04 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2026/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 04 năm 2026 đối với bị cáo:
Trần Văn L, sinh năm 1998 tại tỉnh Thanh Hoá. CCCD số 0380980096xx. Nơi cư trú: thôn C, xã L, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Trần Văn X và bà Trần Thị H. Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: không
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0000759/QĐ-XPHC ngày 20/08/2025 Công an xã L, tỉnh Thanh Hóa đã xử phạt Trần Văn L với hình thức phạt tiền 4.000.000 đồng về hành vi “Qua lại biên giới quốc gia mà không làm thủ tục xuất, nhập cảnh”. Ngày 20/08/2025 Trần Văn L đã nộp số tiền phạt trên tại biên lai số 2450559. Chưa được xóa tiền sự.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/01/2026 đến ngày 16/01/2026 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam số 1 công an tỉnh N cho đến nay; có mặt.
- Người làm chứng: Anh Đỗ Tiến D, anh Vũ Thanh B. Những người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên sáng ngày 08/01/2026 bị cáo Trần Văn L đã thuê xe Taxi đi từ thôn C, xã L, tỉnh Thanh Hóa đến xã K, tỉnh Ninh Bình, L xuống xe và đi bộ đến đoạn đường thuộc xóm Â, xã K. Tại đây L hỏi và mua được 01 gói ma túy, gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng của một người đàn ông không quen biết với giá 500.000 đồng. Sau đó, L cầm gói ma tuý ở tay trái đi tìm nơi sử dụng. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến khu vực nghĩa trang thuộc xóm Â, xã K thấy ít người qua lại nên L định lấy gói ma tuý ra sử dụng thì bị Tổ công tác Công an xã K phát hiện, bắt quả tang.Thu giữ trong lòng bàn tay trái của L 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng có kích thước (01x1,5)cm.
Tiến hành mở niêm phong 01 gói nhỏ thu giữ của L bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng có khối lượng là 0,3269 gam ký hiệu M, gửi trưng cầu giám định.
Kết luận giám định số 569/KL-KTHS ngày 14/01/2026 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng là 0,3269 gam là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra bị cáo Trần Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 19/CT-VKS – KV4 ngày 30/03/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình truy tố bị cáo Trần Văn L về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất nguy hiểm của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 42 (bốn mươi hai) đến 45 (bốn mươi lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo ngày 08/01/2026.
-Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong ghi số 569/KL-KTHS bên trong có số ma túy còn lại sau khi giám định có khối M = 0,2580 gam Heroine và toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ giấy bạc màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không đối đáp, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai tại phiên toà của bị cáo Trần Văn L như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 9 giờ 30 phút ngày 08 tháng 01 năm 2026. Biên bản về việc thu giữ và niêm phong vật chứng lập hồi 10 giờ 20 phút ngày 08 tháng 01 năm 2026 và phù hợp kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 08/01/2026, tại khu vực nghĩa trang thuộc xóm Â, xã K, tỉnh Ninh Bình bị cáo Trần Văn L đã có hành vi cất giữ trái phép trong lòng bàn tay trái 0,3269 gam ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân.
Heroin là chất ma túy thuộc bảng danh mục IA, số thứ tự 9 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.
. Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:
...
c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
…”
. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ ma túy là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và mua bán nhưng vì nhu cầu sử dụng cho bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
. Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cai nghiện, học tập thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân, nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc ma túy: Bị cáo Trần Văn L khai mua của người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, tại khu vực đường trục liên xã thuộc xóm Â, xã K, tỉnh Ninh Bình. Do mới gặp lần đầu không biết tên tuổi, địa chỉ người này và nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do đó, cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, xử lý.
. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:
Một phong bì niêm phong ghi số 569/KL-KTHS bên trong có số ma túy còn lại sau khi giám định có khối M = 0,2580 gam Heroine và toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ giấy bạc màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu. Những vật chứng trên cấm tàng trữ, sử dụng và phục vụ cho quá trình điều tra nay cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Văn L là người bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Tuyên bố bị cáo Trần Văn L phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 42 (bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 08/01/2026.
2.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong ghi số 569/KL-KTHS bên trong có số ma túy còn lại sau khi giám định có khối M = 0,2580 gam Heroine và toàn bộ vỏ gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 01 vỏ giấy bạc màu trắng, vỏ phong bì niêm phong ban đầu.
(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 03 tháng 04 năm 2026 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Ninh Bình).
3.Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (13/05/2026).
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản; - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản; - VKSND khu vực 4 - Ninh Bình: 03 bản; - Phòng PC02 Công an tỉnh: 01 bản; - Cơ quan THAHS Công an tỉnh (PC10): 01 bản; - Phòng HS&NV Công an tỉnh: 01 bản; - Phòng THADS khu vực 4 – Ninh Bình: 01 bản; - Bị cáo: 01 bản; - Lưu hồ sơ: 02 bản; - Lưu tòa và HCTP: 03 bản; | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Thị Khanh |