vanban.org

Bản án 73/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "phạm thanh t - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 73/2026/HS-ST
Ngày: 29 - 3 - 2026
ơ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thúy Hà

Ông Vừ A Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Vân - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Vũ Phương Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2026/TLST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2026/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thanh T

Tên gọi khác: Không có tên gọi khác

Sinh năm: 1981 tại tỉnh Điện Biên.

Căn cước công dân số: 011081003xxx cấp ngày: 04/8/2021 nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an.

Nơi thường trú - Nơi ở hiện tại: Tổ dân phố X, phường Đ, tỉnh Điện Biên.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Con ông: Phạm Thanh N và bà: Nguyễn Thị C; Từ năm 2012 đến năm 2017, bị cáo chung sống như vợ chồng với chị Phạm Thị N và có 01 con sinh năm 2014; Tiền án: Không; tiền sự: Không. Nhân thân: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực X), tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong bản án, được coi là đã xóa án tích. Bị tạm giam từ ngày 15/01/2026 cho đến ngày xét xử. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thanh Trường là người nghiện ma túy đang cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng theo Quyết định số 671/QĐ-UBND ngày 25/10/2025 của Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Điện Biên. Thời gian cai nghiện từ ngày 26/10/2025 đến ngày 26/4/2026. Ngày 09/01/2026 T đi bộ từ nhà đến khu vực ngã ba đường mới thuê xe ôm của người không quen biết đi đến Bản X, xã T, tỉnh Điện Biên để tìm mua ma túy. Khi đến Bản X, T bảo người lái xe ôm đợi mình ở ngoài còn T một mình đi bộ vào trong bản, T gặp một người thanh niên trông giống người nghiện tên H, không quen biết hỏi và mua được 01 gói ma túy gói ngoài bằng giấy bạc với giá 30.000 đồng. T không kiểm tra gói vừa mua, cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ ra chỗ người lái xe ôm đang chờ. Người lái xe ôm chở T đến khu vực Bảo tàng tỉnh Điện Biên thì T bảo dừng xe, trả tiền người lái xe ôm. Sau đó, T đi bộ đến khu vực bãi cà phê sau trường THCS M lấy gói ma túy vừa mua được ra xem trong có một ít chất bột màu trắng, màu hồng, T hiểu đó là Heroine và Methamphetamine, T sử dụng hết số ma túy này bằng hình thức đốt hút. Chiếc bật lửa và mảnh giấy bạc dùng sử dụng ma túy T đã vứt đi rồi đi bộ về nhà. Đến ngày 12/01/2026 thì bị Cơ quan công an triệu tập đến làm việc, T tự nguyện khai nhận toàn bộ hành vi của mình.

Vật chứng thu giữ: Không có.

Tại kết luận giám định số 55/KL-KTHS ngày 15/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Tìm thấy trong nước tiểu của Phạm Thanh T gửi giám định: Loại Methamphetamine; Morphine được tìm thấy khi sử dụng Heroin (Heroine), thuốc phiện hoặc trực tiếp sử dụng Morphine. Đã sử dụng hết mẫu để phân tích.

Tại bản cáo trạng số 4/CT-VKSKV1 ngày 13/3/2026 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đã truy tố bị cáo Phạm Thanh T về tội: Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bố bị cáo phạm tội: Sử dụng trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 01 tháng đến 02 năm 04 tháng tù.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến tranh luận gì về phần luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo mong hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất có thể.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản xác định hiện trương, Kết luận giám định...có đủ cơ sở khẳng định: Phạm Thanh Trường là người nghiện ma túy đang cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng theo Quyết định số 671/QĐ-UBND ngày 25/10/2025 của Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Điện Biên. Thời gian cai nghiện từ ngày 26/10/2025 đến ngày 26/4/2026. Phạm Thanh T đang trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy nhưng ngày 09/01/2026, tại khu vực Tổ dân phố X, phường Đ, tỉnh Điện Biên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a/BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2025).

Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Điện Biên đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52/BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiệm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Về nhân thân: Năm 2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đ (nay là Tòa án nhân dân khu vực X), tỉnh Điện Biên xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo đã chấp hành xong bản án, được coi là đã xóa án tích. Tuy nhiên, do thiếu ý thức rèn luyện bản thân nên đã nghiện ma túy. Đã được cai nghiện tự nguyện tại gia đình và cộng đồng nhưng không từ bỏ được ma túy.

. Về hình phạt bổ sung: Điều 256a/BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) không quy định về hình phạt bổ sung.

. Về biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Không có.

. Các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy và người lái xe ôm: Quá trình điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên, Viện kiểm sát nhân khu vực 1 - Điện Biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136/BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bố bị cáo Phạm Thanh T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s và i khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025): Xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam (15/01/2026).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29/3/2026).

Cỡ chữ