vanban.org

Bản án 73/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị Như Y và ông Nguyễn Vũ L là vợ chồng.

Về con chung: Ông Nguyễn Vũ L có nghĩa vụ tiếp tục giao con chung Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/9/2020 (giới tính nữ) cho bà Trần Thị Như Y tiếp tục nuôi dạy. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng ông có quyền thăm nom con chung phù hợp với quy định … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Như Y-Nguyễn Vũ L"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị Như Y và ông Nguyễn Vũ L là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 2 – CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2026/HNGĐ-ST
Ngày 25-02-2026
V/v không công nhận vợ chồng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 – CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trịnh Chí Linh

Ông Nguyễn Tấn Lộc

- Thư kY phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 25 tháng 02 năm 2026 tại Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 08/2026/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2026 về việc không công nhận vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2026/QĐXX-ST ngày 04 tháng 02 năm 2026 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị Như Y, sinh năm 1996 (có yêu cầu vắng mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ cư trú: Ấp 13, xã KA, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Vũ L, sinh năm 1991 (có yêu cầu vắng mặt)

Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx

Địa chỉ cư trú: Ấp 7, xã KA, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn khởi kiện ngày 12/12/2025 và bản tự khai ngày 25/02/2026 bà Trần Thị Như Y trình bày:

Bà Y và ông L tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2018 nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong lối sống, thường xuyên cự cải nhau, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên ông bà không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2025 đến nay. Vì vậy, bà Y yêu cầu ly hôn với ông L.

Thời gian chung sống bà Y và ông L có con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/9/2020 (giới tính nữ). Khi ly hôn bà Y yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung và nợ chung không có nên bà Y không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Bà Trần Thị Như Y khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Vũ L. Do ông bà chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc không công nhận vợ chồng; Ông L có địa chỉ cư trú tại ấp 7, xã KA, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà Y thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình thụ lY giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Y, ông L và ông bà có yêu cầu xin vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Y, ông L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hôn nhân: Bà Y và ông L tự nguyện chung sống với nhau nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án ông L thừa nhận thời gian chung sống do mâu thuẫn nên ông bà không còn chung sống với nhau từ tháng 6/2025 đến nay. Vì vậy ông L thống nhất ly hôn theo yêu cầu của bà Y. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà chưa tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống ông bà có đủ điều kiện đăng kY kết hôn nhưng không thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 luật Hôn nhân và gia đình nên không được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 14, Điều 53 luật Hôn nhân và gia đình không công nhận bà Trần Thị Như Y và ông Nguyễn Vũ L là vợ chồng.

Thời gian chung sống ông bà có con chung tên Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/9/2020 (giới tính nữ). Xét thấy con chung hiện do bà Y trực tiếp nuôi dạy nên việc hoán đổi nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của con chung. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung cho bà Y nuôi dạy là phù hợp.

Bà Y không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Y và ông L xác định thời gian chung sống ông bà không có tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Y phải chịu án phí theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lY và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 14, 53, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lY và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về hôn nhân: Không công nhận bà Trần Thị Như Y và ông Nguyễn Vũ L là vợ chồng.

2.Về con chung: Ông Nguyễn Vũ L có nghĩa vụ tiếp tục giao con chung Nguyễn Ngọc T, sinh ngày 11/9/2020 (giới tính nữ) cho bà Trần Thị Như Y tiếp tục nuôi dạy. Ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông L không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng ông có quyền thăm nom con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai có quyền cản trở.

3.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Trần Thị Như Y phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 05 tháng 01 năm 2026 bà Y có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000100 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.

3. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ