- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Thu H - Nguyễn Chí L"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2026/HNGĐ-ST Ngày: 24 – 03 - 2026 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Hải
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Văn Năm
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Yến
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Uyên San – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai: Bà Phan Thị
Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 404/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 84/2026/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 11/6/1998.
Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã X, huyện N (nay là xã Đ), tỉnh Hà Tĩnh.
Địa chỉ liên hệ: Số F đường N, khu phố D, phường Q, thành phố B (nay là khu phố B, phường T), tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí L, sinh ngày 29/9/1986.
Địa chỉ: P, nhà trọ Nguyễn Thị Kim T, 24/90, khu phố A, phường H, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai.
(Bà H có đơn xin vắng mặt, ông L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Bà và ông Nguyễn Chí L có đăng ký kết hôn năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2017, ngày 21/12/2017, hôn nhân tự nguyện. Sau khi kết hôn, ông bà chung sống hạnh phúc vào thời gian đầu nhưng sau đó, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, xung đột về tính cách, bất đồng về quan điểm sống. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với với ông Nguyễn Chí L .
Về con chung: Bà và ông L có 01 con chung tên Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/05/2018. Sau khi ly hôn, bà có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N. Tạm thời, bà không yêu cầu ông Nguyễn Chí L cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về vợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn ông Nguyễn Chí L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn sơ thẩm: Đảm bảo theo đúng quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết tranh chấp: Cuộc sống vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Chí L đã phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà H. Về con chung là cháu Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/05/2018, đề nghị Tòa án giao con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung, nợ chung: Bà H trình bày tài sản chung, nợ chung không có. Do ông L không có lời khai nên đề nghị tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thu H khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn ông Nguyễn Chí L hiện đang thực tế sinh sống tại: Phòng trọ số I, nhà trọ Nguyễn Thị Kim T, 24/90, khu phố A, phường H, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai theo phiếu yêu cầu xác minh ngày 06/11/2025 của Công an phường L, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.
Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông L đầy đủ. Tuy nhiên, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông L vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông L tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2017 tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (nay là xã Đ, tỉnh Hà Tĩnh) và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 40/2017, ngày 21/12/2017. Căn cứ vào Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo xác minh tại địa phương, xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà H và ông L có xảy ra hay không thì địa phương không nắm rõ do bà H và ông L không trình báo và cũng không liên hệ để giải quyết.
Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập ông L đến Toà để làm việc, tham dự phiên họp về tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để hai vợ chồng ông bà có điều kiện gặp gỡ thỏa thuận, đoàn tụ nhưng ông L không đến. Điều này chứng tỏ bà H và ông L không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là căn cứ để Tòa án cho ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông L.
Về con chung: Bà H và ông L có 01 con chung là cháu Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/05/2018. Sau khi ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Tạm thời, bà H không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con chung. Đồng thời, cháu N cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Đối với ông L, trong suốt quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, ông L không đến Tòa làm việc và cũng không có bản tường trình về yêu cầu giải quyết con chung. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Tạm thời ông L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Theo bà H trình bày tài sản chung, nợ chung không có. Tuy nhiên, do ông L vắng mặt tại phiên tòa và không có lời khai nên không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do vậy, cần tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về việc ly hôn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Áp dụng các Điều 8, Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thu H. Bà Nguyễn Thị Thu H được ly hôn với ông Nguyễn Chí L.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Khánh N, sinh ngày 13/05/2018 cho bà Nguyễn Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời, ông Nguyễn Chí L không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được ngăn cản quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung của ông Nguyễn Chí L.
Khi cần thiết, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chưa thành niên.
3. Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
4. Về án phí: Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001742 ngày 25/09/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai. Bà H đã nộp xong án phí. 5. Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Nguyễn Chí L có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND khu vực 1 - Đồng Nai; - THADS tỉnh Đồng Nai; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hải |