vanban.org

Bản án 73/2025/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 29/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lương Đức A phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Lương Đức A 15 (mười lăm) tháng tù (được trừ đi số ngày bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/01/2025). Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án. Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Lương Đức A số tiền 56.000.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LƯƠNG ĐỨC A PHẠM TỘI "ĐÁNH BẠC" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lương Đức A phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HSST
Ngày 29 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tươi.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng, bà Lê Thị Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên tham gia phiên tòa: Ông Đinh Huy Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 64/2025/HSST ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2025/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 15/2025/QĐST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Lương Đức A (tên gọi khác: Không), sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Việt C (đã chết) và bà Vũ Thị H; vợ: Lưu Thị T; con: 03 con (con lớn nhất sinh năm 2014; con nhỏ nhất sinh năm 2023); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/01/2025 được áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo tại ngoại tại địa phương; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn C, xã T, thị xã D, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn H1 không có việc làm ổn định nên từ khoảng đầu tháng 6/2024, H1 nảy sinh việc ghi số lô, số đề trái phép để thu lợi bất chính. H1 nhận ghi lô đề bằng ứng dụng nhắn tin SMS và Zalo qua số điện thoại 0386792513, sau đó tự ôm lại và thanh toán khi khách mua số lô, số đề trúng thưởng. H1 dùng kết quả mở thưởng sổ xố kiến thiết miền B vào 18 giờ 15 phút hằng ngày để đối chiếu việc thắng thua với người chơi theo quy ước như sau:

- Đề 2 số: Người chơi tự chọn số có 2 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và số tiền chơi, nếu số đã mua trùng với 2 số cuối của giải đặc biệt thì người chơi thắng bạc và được hưởng số tiền gấp 80 lần số tiền bỏ ra chơi;

- Lô bao: Người chơi chọn mua số có 02 chữ số bất kỳ từ 00 đến 99 và số tiền chơi. Cách tính theo điểm, mỗi điểm tương ứng với 22.500 đồng. Nếu người chơi chọn mua số trùng với 2 số cuối cùng của giải nào đó (từ giải đặc biệt đến giải bảy) thì họ thắng bạc và được hưởng số tiền là 80.000 đồng/1 điểm nhân với số lần trùng giải;

Ngược lại, những người chơi số lô, đề không thuộc các trường hợp trên là thua bạc, sẽ mất toàn bộ số tiền đã bỏ ra chơi. Do biết H1 nhận ghi lô, đề qua điện thoại nên Lương Đức A đã sử dụng số thuê bao 0987019885 nhắn tin gửi đến số điện thoại 0386792513 của Nguyễn Văn H1 để ghi các số lô, số đề cho mình. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2024 đến ngày 28/6/2024, Lương Đức A đã có 12 lần (tương ứng với 12 ngày) mua các số lô, số đề qua tin nhắn SMS, cụ thể: Ngày 03/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 06 ×130đ. 60 ×70đ. Tối cháu gửi chú nhé” nghĩa là mua số lô bao 06 là 130 điểm, số lô bao 60 là 70 điểm. Tổng điểm lô bao là 200 điểm x 22.500đ = 4.500.000 đồng. H1 đồng ý nhận ghi lô, đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok cháu”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua số tiền 4.500.000 đồng. Ngày 10/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Đề 05. 50. 15 51. 49 94. 52. Mỗi con 50k chú nhé” nghĩa là mua các số đề 05, 50, 15, 51, 49, 94, 52 mỗi số đề 50.000đ. Tổng tiền Lương Đức A mua số đề của H1 là 350.000 đồng. H1 đồng ý nhận ghi số đề và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua số tiền 350.000 đồng. Ngày 11/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 50 × 200đ. Đề 50 × 500k” nghĩa là mua số lô 50 là 200 điểm x 22.500đ = 4.500.000đ, số đề 50 là 500.000đ. Tổng tiền Lương Đức A mua số lô, số đề của H1 là 5.000.000đ. Hoạt đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A trúng số lô 50 = 200 điểm x 80.000đ = 16.000.000đ. Tổng tiền mua và trúng thưởng là 21.000.000 đồng. Đối trừ thắng thua, Lương Đức A thắng Hoạt số tiền 11.000.000đ. Ngày 12/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 99. 70 mc 100 điểm chú nhé.” nghĩa là mua số lô 99, 70 mỗi số là 100 điểm. Tổng điểm lô bao Lương Đức A mua của H1 là 200 điểm x 22.500đ = 4.500.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A trúng lô 70 = 100 điểm x 80.000đ = 8.000.000đ. Tổng tiền mua và trúng thưởng là 12.500.000 đồng. Đối trừ thắng thua, Lương Đức A thắng Hoạt số tiền 3.500.000đ. Ngày 13/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 97,68 mc 100đ. Đề 26,46,99 mc 100k. Bc 026 × 100k.” nghĩa là mua số lô bao 97, 68 mỗi con 100 điểm, tổng là 200 điểm x 22.500đ = 4.500.000đ; đề hai số gồm 26, 46, 99 mỗi con 100.000đ, tổng tiền đề hai số là 300.000đ; đề ba càng 026 là 100.000đ. Tổng tiền Lương Đức A mua số lô, số đề của H1 là 4.900.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A trúng số đề 26 = 100.000đ x 80.000đ = 8.000.000đ; trúng số lô 97 = 100 điểm x 80.000đ = 8.000.000đ, tổng tiền trúng thưởng là 16.000.000đ. Tổng tiền mua và trúng thưởng là 20.900.000 đồng. Đối trừ thắng thua, Lương Đức A thắng Hoạt số tiền là 11.100.000đ. Ngày 14/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 56 × 150đ. 27 × 50đ. Đề 19. 13. 38. 83 mc 100k.” nghĩa là mua số lô 56 là 150 điểm, số lô 27 là 50 điểm, tổng là 200 điểm lô bao x 22.500đ = 4.500.000đ; số đề 19, 13, 38, 83 mỗi con 100.000đ = 400.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Tổng tiền mua số lô, số đề là 4.900.000 đồng. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua H1 số tiền 4.900.000đ. Ngày 16/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 00×200đ. 95.61 mc 100đ. Xiên 3:93_27_05 × 450k. Đề 36×150k.” nghĩa là mua các số lô bao 00 là 200 điểm, số lô 95, 61 mỗi con 100 điểm, tổng điểm lô bao là 400 điểm x 22.500đ = 9.000.000đ; lô xiên 3: 93-27-05 là 450.000đ; đề 36 là 150.000đ. Tổng tiền mua số lô, số đề là 9.600.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A trúng số lô 95 = 100 điểm x 80.000đ = 8.000.000đ. Tổng tiền mua và trúng thưởng là 17.600.000 đồng. Đối trừ thắng thua, Lương Đức A thua số tiền 1.600.000đ. Ngày 17/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 55 ×100đ. 04 × 50đ c nhé.” nghĩa là mua số lô 55 là 100 điểm, số lô 04 là 50 điểm, tổng là 150 điểm x 22.500đ = 3.375.000 đồng. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua số tiền là 3.375.000đ. Ngày 18/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Chú ghi hộ cháu. Đề 53,86 mc 75k. Bc 853.50k với.” nghĩa là mua số đề 53, 86 mỗi con 75.000đ = 150.000đ; đề ba càng 853 là 50.000đ. Tổng tiền mua số đề là 200.000 đồng. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua H1 số tiền 200.000đ. Ngày 19/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 00 × 200đ. Lô 74.75 mc 150đ chú nhé.” nghĩa là mua số lô bao 00 là 200 điểm, số lô 74, 75 mỗi con là 150 điểm, tổng điểm lô bao là 500 điểm x 22.500đ = 11.250.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua H1 số tiền 11.250.000đ. Ngày 20/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 00.96 mc 100đ chú nhé.” nghĩa là mua số lô bao 00, 96 mỗi số 100 điểm, tổng là 200 điểm x 22.500đ = 4.500.000đ. Hoạt đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A không trúng thưởng và thua H1 số tiền 4.500.000đ. Ngày 23/6/2024, Lương Đức A nhắn tin cho H1 với nội dung: “Lô 62.59.00 mc 100đ. Đề kép bằng mc 100k. Đề 14 41 mc 200k. 77 ×100k. 08,99 mc 50k. Bc 099 × 50k. Chú nhé” nghĩa là mua các số lô bao 62, 59, 00 mỗi số 100 điểm, tổng là 300 điểm x 22.500đ = 6.750.000đ; số đề kép bằng gồm 00, 11, 22, 33, 44, 55, 66, 77, 88, 99 mỗi số 100.000đ = 1.000.000đ; số đề 14, 41 mỗi số 200.000đ = 400.000đ; số đề 77 là 100.000đ; số đề 08, 99 mỗi số là 50.000đ = 100.000đ; số đề ba càng 099 là 50.000đ. Tổng tiền lô, đề Lương Đức A mua của H1 là 8.400.000đ. Hoạt đã đồng ý nhận ghi số lô, số đề cho Lương Đức A và nhắn tin lại: “Ok”. Sau khi so sánh đối chiếu kết quả xổ số cùng ngày, Lương Đức A trúng thưởng số lô bao 59 = 100 điểm x 80.000đ = 8.000.000đ. Tổng tiền mua số lô, đề và trúng thưởng là 16.400.000 đồng. Đối trừ thắng thua, Lương Đức A bị thua số tiền 400.000đ. Tất cả các lần mua số lô, số đề trên, Lương Đức A và Nguyễn Văn H1 đã thanh toán tiền với nhau xong.

Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc điện thoại Nguyễn Văn H1 đã sử dụng để nhận ghi các số lô, số đề của Lương Đức A đã được xử lý tại Bản án hình sự sơ thẩm số 194/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của TAND thị xã Duy Tiên. Đối với chiếc điện thoại Lương Đức A sử dụng để ghi các số lô, số đề với Nguyễn Văn H1, Lương Đức A khai nhận đã bị mất sau ngày H1 bị bắt. Cáo trạng số 75/CT-VKS-DT ngày 17/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên đã truy tố Lương Đức A về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS, xử phạt Lương Đức A mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với Lương Đức A số tiền 56.000.000 đồng do phạm tội mà có. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt, ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người tham gia tố tụng khác, cùng các tài liệu chứng cứ khác, từ đó HĐXX có đủ cơ sở kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/6/2024 đến ngày 28/6/2024, Lương Đức A đã 06 lần đánh bạc với tổng số tiền trên 5.000.000 đồng bằng cách sử dụng điện thoại có gắn sim số thuê bao 0987019885 nhắn tin đến số điện thoại 0386792513 của Nguyễn Văn H1 để mua số lô, số đề như sau: Ngày 11/6/2024: đánh bạc với số tiền là 21.000.000đồng; Ngày 12/6/2024: đánh bạc với số tiền là 12.500.000đồng; Ngày 13/6/2024: đánh bạc với số tiền là 20.900.000đồng; Ngày 16/6/2024: đánh bạc với số tiền là 17.600.000đồng; Ngày 19/6/2024: đánh bạc với số tiền là 11.250.000đồng; Ngày 23/6/2024: đánh bạc với số tiền là 16.400.000đồng. Ngoài ra Lương Đức A còn 6 lần đánh bạc với Nguyễn Văn H1 bằng hình thức nhắn tin ghi số lô, số đề dưới 5.000.000đồng vào các ngày 03, 10, 14, 17, 18, 20 tháng 6/2024 với số tiền là 17.825.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Lương Đức Anh đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề từ ngày 03/6 đến ngày 23/6 là 117.475.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tội phạm, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là: “Phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn (có xác nhận của địa phương) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Từ nhận định trên xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân tốt xong hành vi của bị cáo phạm tội nhiều lần cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với các đối tượng khác, hành vi khác trong vụ án: Đối với hành vi ghi số lô, đề của Nguyễn Văn H1 đã bị xét xử tại Bản án 194/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Về vật chứng của vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án 194/2024/HSST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên nên HĐXX không đặt ra giải quyết.

Đối với số tiền 56.000.000 đồng bị cáo Lương Đức A có được từ việc thắng bạc (ngày 11/6/2024 là 16.000.000đ, ngày 12/6/2024 là 8.000.000đ, ngày 13/6/2024 là 16.000.000đ; ngày 16/6/2024 là 8.000.000đ, ngày 23/6/2024 là 8.000.000đ) là số tiền chiếm hưởng bất chính cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự thực hiện quyền kháng cáo theo quy định. Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lương Đức A phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Lương Đức A 15 (mười lăm) tháng tù (được trừ đi số ngày bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/01/2025). Thời hạn tù tính từ ngày đi thi hành án.

2. Truy thu sung ngân sách nhà nước đối với bị cáo Lương Đức A số tiền 56.000.000 đồng.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Lương Đức A phải nộp: 200.000 đồng.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ