vanban.org

Bản án 73/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 4 - Hà Nội, TP. Hà Nội Tuyên án 14/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn B và Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Xử phạt bị cáo Lò Văn B: 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn H, Lò Văn B - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn B và Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2025/HS-ST
Ngày 14 tháng 4 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ pH toà: Ông Đặng Thế V;

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Minh T;

2. Bà Nguyễn Thị V.

- Thư ký pH toà: Ông Nguyễn Mạnh D, Thư ký TAND quận B, Thành phố Hà Nội. cộng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia pH toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân quận B, Thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:79/2025/HSST, ngày 27 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 86/2025/HS-QĐ, ngày 31 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

- Họ và tên: Lò Văn B, sinh năm 2004; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Bản Còng, xã P, huyện C, Sơn La; Nơi ở hiện tại: không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Lò Văn T, đã chết; Họ và tên mẹ: Lò Thị D, sinh năm 1973; Gia đình có 2 anh em, Bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Không có.

Danh bản và chỉ bản số: 000000021, lập ngày 30/12/2024, tại Công an quận B, thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/12/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an TP Hà Nội.

(Có mặt tại pH tòa)

- Họ và tên: Lò Văn H, sinh năm 1993; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký thường trú: Bản Giăng, xã Q, huyện G, tỉnh Điện Biên; Nơi ở hiện tại: không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên bố: Lò Văn X, sinh năm 1964; Họ và tên mẹ: Lò Thị KH, sinh năm 1967; Gia đình Bị cáo có 06 anh chị em, Bị cáo là con thứ năm; Họ và tên vợ: Lò Thị T, sinh năm 1997, Bị cáo có 03 con: Lò Mạnh C, sinh năm 2016; Lò Xuân 1, sinh năm 2019; Lò Văn Vương, sinh năm 2024.

Danh bản và chỉ bản số: 000000051, lập ngày 30/12/2024, tại Công an quận B, thành phố Hà Nội.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang ngày 20/12/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại Trại tạm giam số 1, Công an TP Hà Nội.

(Có mặt tại pH tòa)

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn B và bị cáo Lò Văn H: Ông Bạch Ngọc K – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hà Nội.

(Có mặt tại pH tòa)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1979; Nơi đăng ký thường trú: TDP 3, phường Cổ Nhuế 2, quận B, thành phố Hà Nội.

(Vắng mặt tại pH toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại pH tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16h50 ngày 20/12/2024, tại khu vực cổng bệnh viện Phương Đông, phường Cổ Nhuế 2, quận B, Hà Nội, tổ công tác công an phường Cổ Nhuế 2 trong khi làm nhiệm vụ phát hiện Lò Văn H và Lò Văn B chở nhau trên xe Airblade BKS 26B2 – 278.87 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trong bàn tay phải của Lò Văn B có 01 gói nilong màu trắng chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ, H và B đều khai chất bột màu trắng là ma tuý Hêroin, H và B mang đi bán cho một đối tượng tên T. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và B.

Ngày 10/01/2025, đối tượng Nguyễn Đình T đã tự nguyện đến cơ quan điều tra làm việc khai nhận T định mua ma tuý của H để sử dụng, khi T đến khu vực bệnh viện đa khoa phương Đông thì thấy cơ quan công an bắt giữ H và B nên đã sợ quá bỏ về nhà tại tổ dân phố 3, Cổ Nhuế 2, B, Hà Nội

Vật chứng thu giữ:

* Thu giữ của Lò Văn B:

01 túi nilong màu trắng kích thước 1x1cm bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 điện thoại kiểu dáng Iphone màu trắng và Honda Airblade BKS 26B2 – 278.87.

* Thu giữ của Lò Văn H:

01 điện thoại Oppo màu đen.

* Thu giữ của Nguyễn Đình T:

01 điện thoại Nokia lắp sim thuê bao số 0589823197.

Kết luận giám định số 9148 ngày 29/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong màu trắng là ma tuý loại Hêrôin, khối lượng 0,124gam.

Quá trình điều tra xác định:

Lò Văn H, Lò Văn B và một đối tượng tên “Hà” (Không xác định được nhân thân lai lịch) đều là đối tượng nghiện ma tuý quen biết nhau qua mối quan hệ xã hội. Khoảng 14h00 ngày 20/12/2024, Lò Văn H và đối tượng “Hà” đang ở nhà nghỉ Thu Trang tại số 8 ngõ 379/19 đường Phạm Văn Đồng thì H nhận được điện thoại từ số 0589832197 của một người quen là Nguyễn Đình T gọi đến số 0376229399 của H hỏi mua 400.000đồng ma túy Heroine. H đồng ý, thống nhất với T giao ma tuý tại cổng Bệnh viện Phương Đông, phường Cổ Nhuế 1, B, Hà Nội. Sau khi thoả thuận với T, H bảo “Hà” đi mua ma tuý về bán cho T, Hà đồng ý rồi gọi điện qua ứng dụng messenger cho Lò Văn B bảo B đến nhà nghỉ Thu Trang chở H đi giao ma tuý. Sau đó, “Hà” ra khỏi nhà nghỉ đi mua ma tuý ở đâu thì H không biết.

Khi Hà gọi messenger cho Lò Văn B, B đang làm nội thất tại công trình ở khu vực Cầu Diễn, phường Phúc Diễn, quận B, Hà Nội cùng anh họ là Lò Văn Hồng (SN 1993, HKTT: Bản Còng, Phổng Lăng, C, Sơn La). Đến khoảng 15h00 cùng ngày, Lò Văn B mượn xe máy Honda Airblade BKS 26B2 – 278.87 của anh Hồng nói là đi có việc rồi điều khiển đến nhà nghỉ Thu Trang gặp H, H bảo B đợi “Hà” mang ma tuý về. Khoảng 30 phút sau, “Hà” về đưa cho B 01 gói ni lông màu chứa ma tuý Herôine ở đầu ngõ vào nhà nghỉ. B đưa lại cho H rồi chở H đến cổng bệnh viện Phương Đông để bán ma tuý cho đối tượng “T”. Trên đường đi, H đưa gói ma túy cho B cầm. Đến nơi, H xuống xe gọi điện thoại cho “T”. Còn B vẫn ngồi trên xe máy và cầm gói ma tuý ở tay phải thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Tại cơ quan điều tra, Lò Văn H và Lò Văn B khai nhận nội dung như nêu trên và khai mục đích mua ma túy là để sử dụng.

Đối với đối tượng “Hà”, H và B đều khai mới quen Hà, không biết nhân thân lai lịch, chỉ nghe Hà giới thiệu quê ở C, Sơn La, khi thuê nhà nghỉ Thu Trang thì H là người để lại giấy tờ tuỳ thân. Cơ quan điều tra đã rà soát khu vực nhà nhỉ Thu Trang và camera nhưng không phát hiện được đối tượng “Hà”.

Đối với Nguyễn Đình T mục đích mua ma tuý về sử dụng nhưng chưa mua được ma tuý, kiểm tra chất ma tuý trong cơ thể T cho kết quả âm tính nên cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với xe máy Honda Airblade BKS 26B2 – 278.87 thu giữ của Lò văn B, qua xác minh tra cứu, xe không có trong dữ liệu xe máy vật chứng. Đăng ký xe mang tên Cà Văn Xương (SN 1983, HKTT: Bản Cỏ, Chiềng Khương, Sông Mã, Sơn La). Năm 2018, anh Xương mua và đứng tên đăng ký xe đến năm 2024, anh Xương bán lại xe cho anh Nguyễn Văn Kiểm (SN 1993, HKTT: Tân Quang, Văn Lâm, Hưng Yên) là nghề mua bán xe máy. Anh Kiểm bán lại xe cho anh Lò Văn Hồng. Ngày 20/12/2024, anh Hồng cho B mượn xe không biết việc B sử dụng xe đi mua bán ma tuý. Ngày 05/02/2025, cơ quan điều tra ra quyết định xử lý vật chứng số 407 trao trả lại xe cho anh Lò Văn Hồng.

Tại bản cáo trạng số 78/CT-VKSBTL ngày 26/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, Thành phố Hà Nội quyết định truy tố Lò Văn B và Lò Văn H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự;

Tại pH tòa: Các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B luận tội: Khẳng định bản cáo trạng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lò Văn B và bị cáo Lò Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn B và bị cáo Lò Văn H mức án từ 26 đến 32 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

- Vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên được niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký của các bị cáo, cán bộ công an;

+ Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Oppo màu đen và 01 điện thoại Nokia lắp sim thuê bao số 0589823197, đã qua sử dụng.

- Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

- Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại pH tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại pH tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại pH tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, TP. Hà Nội trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại pH tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.

. Tội danh và khung hình phạt Viện kiểm sát truy tố đối với các bị cáo:

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại pH tòa phù hợp với lời khai của chính các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của người liên quan, phù hợp với người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16h50 ngày 20/12/2024, Lò Văn B điều khiển xe máy Honda Airblade BKS 26B2 – 278.87 chở Lò Văn H mang theo 01 gói ma tuý Hê rôin trọng lượng 0,124gam đến khu vực cổng bệnh viện Phương Đông, phường Cổ Nhuế 2, quận B, Hà Nội để bán cho đối tượng Nguyễn Đình T. Khi B và H đang đợi T đến nhận ma tuý thì bị tổ công tác công an phường Cổ Nhuế 2 bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lò Văn H và bị cáo Lò Văn B đủ dấu hiệu hoàn thành của tội "Mua bán trái phép chất ma túy" được quy định tại Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Vì vậy, bản cáo trạng số 78/CT-VKS ngày 26/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo Lò Văn B và bị cáo Lò Văn H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã cố ý xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khỏe của con người; hành vi của các bị cáo còn là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bản thân các bị cáo là thanh niên có sức khỏe, nhận thức được việc sử dụng, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi trái pháp luật, nhưng do bản thân nghiện hút, các bị cáo có ý định bán cho người khác để có tiền mua và sử dụng ma tuý. Hành vi này cần phải xử lý nghiêm, nhằm răn đe phòng ngừa ý thức tiêu cực của bị cáo, đồng thời tuyên truyền giáo dục phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự;

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Thành khẩn khai báo” và “ăn năn hối cải”, các bị cáo có nhân thân tốt lần đầu bị đưa ra xét xử được quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt:

Đánh giá tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi các bị cáo thực hiện, nguyên nhân, mục đích, động cơ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội với mức án như Đại diện Viện kiểm sát tại tòa là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

. Về vật chứng:

Hội đồng xét xử chấp nhận về việc xử lý vật chứng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại pH toà.

. Về án phí và quyền kháng cáo:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Lò Văn B và Lò Văn H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Khoản 1 Điều 251, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Áp dụng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;

1. Xử phạt bị cáo Lò Văn B: 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

Xử phạt bị cáo Lò Văn H: 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

2. Về vật chứng của vụ án:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì còn nguyên được niêm phong bên trong có chứa ma túy sau giám định, bên ngoài có chữ ký của các bị cáo, cán bộ công an;

+ Tịch thu xung công quỹ nhà nước 01 điện thoại Oppo màu đen và 01 điện thoại Nokia lắp sim thuê bao số 0589823197, đã qua sử dụng.

(Vật chứng trên được xử lý theo biên bản giao, nhận vật chứng số 166/25 ngày 11 tháng 04 năm 2025 giữa Cơ quan CSĐT công an quận B với Chi cục thi hành án dân sự quận B).

3. Án phí và quyền kháng cáo:

Buộc các bị cáo Lò Văn H và Lò Văn B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ