- Tranh chấp gì? án hình sự — "N.X.L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo N.X.L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2025/HS-ST Ngày 29-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Nam.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Hồng Đức.
Bà Bùi Thị Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Hiếu - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Tô Quốc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2025 đối với:
Bị cáo: N.X.L, sinh năm 19.. tại thành phố Hà Nội. Nơi thường trú: Thôn X, xã Y, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở: Xóm P, xã H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N.X.B, sinh năm 1972 và bà T.T.M, sinh năm 1969; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ nhất; Có vợ là L.T.T.H1, sinh năm 2000 và 02 con (L.B.L2, sinh năm 2018, N.B.A, sinh năm 2022); Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị bắt quả tang ngày 22/7/2025, tạm giữ từ ngày 22/7/2025, tạm giam từ ngày 25/7/2025; Danh chỉ bản số 1718, lập ngày 25/7/2025 tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Hiện bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/7/2025, tổ công tác Công an xã H, thành phố Hà Nội đang làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn xã H, khi đến trước số nhà số .., ngõ H, thôn D, thì phát hiện N.X.L đang ngồi trên xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 89AE-004.36, có biểu hiện nghi vấn về ma túy, nên tiến hành kiểm tra. Tổ công tác phát hiện tại vị trí hốc để đồ bên tay trái phía trước xe mô tô có 01 túi nilông màu hồng kích thước (3x5)cm, bên ngoài quấn băng dính đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tại chỗ, L khai đây là ma túy đá của L mua, mang theo để tìm chỗ sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và đưa L về trụ sở Công an xã H làm việc.
Ngày 22/7/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội khám xét khẩn cấp chỗ ở của N.X.L tại xóm P, xã H, nhưng không phát hiện thu giữ được gì.
Về nguồn gốc ma tuý, N.X.L khai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/7/2025, L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 89AE- 004.36 từ chỗ ở của L đến khu vực đường đê gần trạm bơm H thuộc xã H, thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, L gặp một người đàn ông không quen biết, dáng người thấp, gầy, mặc áo mưa, đội mũ, đeo khẩu trang, đi xe không biển kiểm soát, trông giống người nghiện, nên L đến hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá. Người này đồng ý và đưa cho L 01 túi nilông màu hồng, bên ngoài quấn băng dính đen, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Biết đây là ma túy đá cần mua, L đưa cho người đàn ông này 500.000 đồng. Sau đó, L cầm gói ma túy cất vào hốc để đồ bên tay trái phía trước xe mô tô, rồi đi tìm chỗ để sử dụng cho bản thân. Khi L đi đến cổng nhà số .., ngõ H, thôn D, xã H, thì L bị Công an xã H kiểm tra, phát hiện tang vật như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 4325/KL-KTHS ngày 31/7/2025, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilông màu hồng (ngoài cuốn băng dính màu đen) là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,402 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, N.X.L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên và khai: Ngày 17/7/2025, L có sử dụng ma túy đá một mình tại nhà ở xóm P, xã H, số ma túy L sử dụng ngày 17/7/2025 là do L mua từ lâu và cất giấu ở nhà, L không nhớ mua của ai, thời gian nào.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho L vào ngày 22/7/2025 tại đường dân sinh địa phận trạm bơm Hồng Vân, xã Hồng Vân, L khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hà Nội đã xác minh nhưng chưa làm rõ được nhân thân lai lịch, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý trong vụ án này, khi nào làm rõ sẽ đề cập xử lý sau.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 89AE-004.36. Cơ quan điều tra đã xác minh chủ sở hữu là chị N.T.H2 (sinh năm 19.., nơi thường trú: Thôn X, xã Y, tỉnh Hưng Yên). Ngày 22/7/2025, chị H2 cho L mượn xe mô tô nhưng chị H2 không biết L sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô trên cho chị H2.
Đối với hành vi sử dụng ma túy đá một mình tại nhà ở xóm P, xã H vào ngày 17/7/2025, Cơ quan điều tra đã làm rõ hành vi này không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma tuý theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Công an xã H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với L về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSKV11 ngày 15/9/2025, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội truy tố N.X.L về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo L khai đã thực hiện hành vi như Cáo trạng truy tố, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội tham gia phiên tòa sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân (không tiền án, tiền sự) của bị cáo, đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo N.X.L mức án từ 42 tháng đến 48 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định. Về án phí: Bị cáo L phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 22/7/2025, tại khu vực ngõ H, thôn D, xã H, thành phố Hà Nội, N.X.L đang tàng trữ trái phép 0,402 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân, thì bị Công an xã H phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản lý, kiểm soát của Nhà nước đối với chất ma túy. Bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy, hành vi của bị cáo N.X.L có đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo N.X.L thành khẩn khai báo, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo N.X.L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về quyết định hình phạt: Điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:“Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm: c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của N.X.L, cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa tội phạm.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, do bị cáo N.X.L không có nghề nghiệp, tài sản, nên Tòa án không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: Đối với 0,402 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của N.X.L, là vật cấm tàng trữ, cơ quan giám định đã thu mẫu giám định 0,062 gam, còn lại 0,34 gam, cần phải tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 89AE-004.36, là tài sản của chị N.T.H2. Ngày 22/7/2025, chị H2 cho N.X.L (là cháu họ) mượn làm phương tiện đi lại và không biết L sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, nên Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô trên cho chị H2 là đúng.
Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo N.X.L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho N.X.L: L khai không biết tên, tuổi, địa chỉ, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý là đúng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo N.X.L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt N.X.L 42 (Bốn mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/7/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với N.X.L.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong dán kín, bên ngoài có chữ ký của N.X.L, giám định viên T.T.V, cán bộ Công an xã H - N.M.C, bên trong có 0,34 gam Methamphetamine. Vật chứng đang được bảo quản tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11 - Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/9/2025.
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo N.X.L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo N.X.L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Tp. Hà Nội; - VKSND khu vực 11 - Hà Nội; - Cơ quan CSĐT - Công an Tp. Hà Nội; - Trại tạm giam số 2 - Công an Tp. Hà Nội; - Phòng THADS khu vực 11 - Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hữu Nam |