- Tranh chấp gì? án hình sự — "hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2024/HSST Ngày 24 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP,TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Phan Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Xuân Thuỷ;
2. Ông Vũ Toàn Thắng.
- Thư ký phiên tòa: ông Phạm Việt Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Đinh Thị Hồng Chiên – Kiểm sát viên. Ngày 24/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2024/QĐXXST – HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh ngày 04/7/1970, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ D, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/10; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên bố: Nguyễn Văn C (đã chết); họ tên mẹ Lê Thị L ( đã chết); vợ: Tào Thị N, con có 01 con sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: Ngày 01/05/2019 Công an phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ra QĐ số 21/QĐ xử phạt hành chính, phạt tiền 500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, đến nay Nguyễn Văn B chưa chấp hành; ngày 21/12/2022 Công an phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ra QĐ số 0200223/QĐ- Xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo chưa chấp hành; ngày 19/01/2023 Công an phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ra QĐ số 0200229/QĐ - xử phạt hành chính, phạt tiền 1.500.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo chưa chấp hành. Nhân thân: ngày 29/06/2022 bị Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Ngọc H số tiền 131.395.000đ, đến nay Nguyễn Văn B chưa bồi thường số tiền nêu trên. Ngày 15/09/2022 Nguyễn Văn B chấp hành xong án phạt 7 tháng tù; Ngày 24/02/2009 bị Toà án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp) xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phải nộp 50.000đ án phí HSST, bị cáo đã nộp số tiền 50.000đ án phí HSST. Ngày 15/12/2010 Nguyễn Văn B chấp hành xong án phạt 30 tháng tù; ngày 05/04/2005 UBND thị xã T, tỉnh Ninh Bình ra Quyết định số 181/QĐUB về việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 12 tháng. Ngày 07/04/2007 Nguyễn Văn B chấp hành xong; Ngày 07/07/2016 Công an phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình ra QĐ số 22/QĐ - xử phạt hành chính, phạt tiền 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 14/07/2016 đã chấp hành nộp phạt số tiền 750.000đ; ngày 07/02/2023 Chủ tịch UBND Phường N, thành phố T đã ra QĐ số 01/QĐ-XPTT về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn/biện pháp quản lý tại gia đình đối với Nguyễn Văn B với thời hạn giáo dục là 3 tháng kể từ ngày 07/02/2023 đến ngày 07/5/2023. Ngày 07/05/2023, UBND phường N, thành phố T đã có giấy chứng nhận số 09/GCN-XPTT chứng nhận Nguyễn Văn B đã chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 07/6/2024 đến ngày 14/6/2024 chuyển tạm giam; hiện đang tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Ninh Bình (bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn B: ông Vũ Ngọc H1 trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt)
- Người chứng kiến: anh Phạm Hồng T (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau:
Nguyễn Văn B là người sử dụng ma túy, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, chiều ngày 07/06/2024, Ba đi nhờ xe máy của người đi đường từ nhà mình đến khu vực chân cầu vượt thành phố T mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đi đến chân cầu vượt, Ba đi bộ vào trong một ngõ nhỏ thuộc đường gom tổ D, phường N, tại đây Ba gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình trong ngõ một gói ma túy Heroine với gái 300.000 đồng, được gói trong giấy màu trắng, xanh, đỏ cất trong một vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEAL màu trắng, đã bóc một đầu. Ba mở ra xem xác định là ma túy Heroine rồi cầm trên tay phải đi bộ ra khu vực đầu ngõ đường gom dân sinh, chân cầu vượt để đi nhờ xe về nhà. Khoảng 16 giờ 30 phút, khi Ba đang đứng đợi xe ở đầu ngõ thì gặp tổ công tác Công an thành phố T đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm sát phát hiện Ba có biểu hiện nghi vấn đã đến yêu cầu kiểm tra. Ba không xuất trình được giấy tờ và khai tên tuổi. Tổ công tác hỏi Ba có sử dụng ma túy không thì B khai nhận bản thân là người sử dụng ma túy Heroine và tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEAL màu trắng đang cầm trên tay phải, bên trong có gói ma túy Heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành kiểm tra xác định là vỏ bao thuốc lá SEAL, đã bóc một đầu, bên trong vỏ bao thuốc lá không có điếu thuốc lá nào có một gói giấy màu trắng, xanh, đỏ kích thước (5,5 x 4,5)cm, bên trong là chất bột dạng cục màu trắng. Tổ công tác đã niêm phong vào trong một phong bì giấy, dán kín mép, có chữ ký của B và những người tham gia. Ngoài ra còn thu giữ của Ba số tiền 110.000đ ở túi quần bên trái phía trước đang mặc. Sau đó đưa Ba cùng vật chứng, tài sản về trụ sở lập biên bản thu giữ niêm phong vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn B có khối lượng là 0,27 gam, ký hiệu M gửi đi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 523/KL-KTHS-MT ngày 13/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,2688 gam là ma túy loại Heroine (Heroine)
Heroine có tên khoa học là D, được quy định tại bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung 2017) và là chất ma túy thuộc danh mục IA, số thứ tự 9, nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Trong quá trình điều tra, truy tố Nguyễn Văn B đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản Cáo trạng số 68/CT– VKSTĐ ngày 26/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 07/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01(một) phong bì giấy dán kín mép niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi số: 523/KL- KTHS- MT. Vụ: Nguyễn Văn B, SN: 1970, cất giấu trái phép chất ma túy, xảy ra ngày 07/06/2024 tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm: M= 0,1900 gam là ma túy, loại Heroine( H), toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 (một) vỏ phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng thủ tục pháp luật còn nguyên vẹn, bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy màu trắng, xanh, đỏ có kích thước(5,5 x 4,5)cm; 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEAL màu trắng, đã bóc một đầu, bên trong không có điếu thuốc lá nào.
Trả lại số tiền 110.000 đồng tiền ngân hàng N1 cho bị cáo Nguyễn Văn B.
- Về án phí: áp dụng Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn B.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận do có nhu cầu về sử dụng ma tuý, bị cáo đã đi đến khu vực tổ D, phường N, thành phố T mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý đang định đi về thì gặp tổ công tác Công an thành phố T phát hiện bắt giữ.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Bị cáo là người hiểu biết pháp luật hạn chế, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm của mình; trả lại cho bị cáo số tiền đã thu giữ. Bị cáo là hộ nghèo, kinh tế gia đình khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm đ Điều 12 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, sau khi phạm tội rất ân hận về việc làm của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định số 523/KL-KTHS-MT ngày 13/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: hồi 16 giờ 30 phút ngày 07/6/2024 tại đầu ngõ đường gom dân sinh, thuộc tổ D, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn B có hành vi Tàng trữ trái phép 0,2688 gam, ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, thì bị Công an thành phố T phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an ở địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ được Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,2688 gam, ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a,….
b,…..
c, H2, C1, M, A, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
...”
Bản Cáo trạng số 68/CT– VKSTĐ ngày 26/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật. [2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về tiền sự: bị cáo có 3 tiền sự vào các năm 2019, 2022, 2023 bị Công an phường N, thành phố T xử phạt hành chính đều về hành vi “ sử dụng trái phép chất ma tuý” bị cáo chưa chấp hành các quyết định trên.
- Về nhân thân: ngày 29/06/2022 bị Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Ngọc H số tiền 131.395.000đ, đến nay Nguyễn Văn B chưa bồi thường số tiền nêu trên. Ngày 15/09/2022 Nguyễn Văn B chấp hành xong án phạt 7 tháng tù; Ngày 24/02/2009 bị Toà án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình (nay là Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp) xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” phải nộp 50.000đ án phí HSST, bị cáo đã nộp số tiền 50.000đ án phí HSST. Ngày 15/12/2010 Nguyễn Văn B chấp hành xong án phạt 30 tháng tù; Năm 2005 bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hanh 12 tháng; năm 2023 bị Chủ tịch UBND phường N áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dụng tại xã phường với thời hạn 3 tháng.
Về hình phạt: Xét tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, việc bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn công cộng, đến sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con người, cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt khác của đời sống xã hội. Vì vậy khi quyết định hình phạt cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: do bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân, không vì vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy, B khai mua của một người đàn ông không biết lai lịch, địa chỉ ở đâu tại khu vực chân cầu vượt thuộc tổ D, phường N, thành phố T vì vậy, không đủ căn cứ để điều tra, xử lý đối với người đã bán ma tuý cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 0,1900 gam chất bột dạng cục màu trắng, là ma túy, loại Heroine được hoàn trả sau giám định cùng toàn bộ vỏ, bao gói được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 523/KL- KTHS-MT vụ Nguyễn Văn B; 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, xanh, đỏ kích thước (5,5x4,5)cm; 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEAL màu trắng, đã bóc một đầu, bên trong không có điếu thuốc lá nào. Đây là những vật chứng, chứng minh tội phạm, không còn giá trị sử dụng và là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên.
- Đối với số tiền 110.000đồng tiền Ngân hàng N1 đã thu giữ trong người của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội do đó cần trả lại cho bị cáo căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Án phí hình sự: bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 22 ( Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ ngày 07/6/2024.
3. Xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi số: 532/KL-KTHS-MT, vụ Nguyễn Văn B, sinh năm 1970, cất giấu trái phép chất ma tuý xảy ra ngày 07/6/2024 tại phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Mẫu vật hoàn trả gồm M = 0,1900 gam, là ma túy, loại Heroine cùng toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong; 01 phong bì giấy dán kín niêm phong theo đúng quy định của pháp luật bên ngoài ghi vật chứng lưu kho: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, xanh, đỏ kích thước (5,5x4,5)cm; 01(một) vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu SEAL màu trắng, đã bóc một đầu, bên trong không có điếu thuốc lá nào (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 và uỷ nhiệm chi lập ngày 26/8/2024 giữ Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).
- Trả lại số tiền 110.000 đồng tiền ngân hàng N1 cho bị cáo Nguyễn Văn B.
4. Về án phí: miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình(1) - VKSND thành phố Tam Điệp(1) - Công an thành phố Tam Điệp(1) - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp (1) - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình(1) - Cơ quan THAHS Công an TP Tam Điêp(1) - Bị cáo(1) - Lưu HSVA, VP. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa đã ký Phan Ngọc Hà |