vanban.org

Bản án 73/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị D đối với anh Nguyễn Văn H. Chị Lê Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 06/5/2016 cho chị Lê Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chị Lê Thị D không yêu cầu cấp dưỡng. Anh Nguyễn Văn H có quyề… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp về ly hôn - nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM THUẬN BẮC
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 12/7/2024.
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ung Thanh Quang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Sơn

2. Ông Đặng Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 122/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/6/2024 giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: Chị Lê Thị D – sinh năm 1990 (có mặt) Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện B – Bình Thuận.

*Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H – sinh năm 1990 (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện B – Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 25/3/2024 cũng như lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị D trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H không chịu làm kiếm tiền nuôi con mà hay nhậu say rồi đánh chị nhiều lần, mỗi lần thấy anh H say rượu là chị phải chạy trốn nếu không thì bị đánh, nên không cùng quan điểm sống hay cãi vả nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa đề nghị ly hôn với anh Nguyễn Văn H. Về con: Vợ chồng có 01 con tên: Nguyễn Gia K – sinh ngày 06/5/2016. Khi ly hôn, chị Lê Thị D xin nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn H vắng mặt không trình bày gì.

Tại bản khai ngày 26/4/2024 cháu Nguyễn Gia K trình bày: Khi cha mẹ ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Lê Thị D.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh Nguyễn Văn H để tống đạt văn bản tố tụng, nhưng anh Nguyễn Văn H không đến Tòa án huyện để tham gia phiên Tòa. Do đó, vụ án giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của anh Nguyễn Văn H không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa vì anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng cố tình vắng mặt chứng tỏ anh đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Nguyễn Văn H.

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024 đã xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại xã T, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.

2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân tích như sau: Theo lời khai của chị Lê Thị D thì chị và anh Nguyễn Văn H sống chung với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Lê Thị D khai nguyên nhân là do anh H không chịu làm kiếm tiền nuôi con mà hay nhậu say rồi đánh chị nhiều lần, mỗi lần thấy anh H say rượu là chị phải chạy trốn nếu không thì bị đánh, nên không cùng quan điểm sống hay cãi vả nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã triệu tập anh Nguyễn Văn H nhiều lần nhưng anh Nguyễn Văn H cố tình vắng mặt chứng tỏ anh Nguyễn Văn H không có thiện chí để đoàn tụ gia đình. Xuất phát từ nguyên nhân nêu trên căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì tình trạng hôn nhân của chị Lê Thị D và anh Nguyễn Văn H rất trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị D.

3. Về con chung: Chị Lê Thị D khai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 01 con tên: Nguyễn Gia K – sinh ngày 06/5/2016, khi ly hôn chị Lê Thị D nuôi con và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy việc chị Lê Thị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con là phù hợp nguyện vọng của con và phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

4. Về tài sản và nợ: Chị Lê Thị D không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.

5.Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị Lê Thị D không phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con nhưng chị là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2.Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị D đối với anh Nguyễn Văn H. Chị Lê Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Văn H.

- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia K – sinh ngày 06/5/2016 cho chị Lê Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, chị Lê Thị D không yêu cầu cấp dưỡng. Anh Nguyễn Văn H có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con và cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

3. Về án phí, lệ phí: Chị Lê Thị D là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị Lê Thị D đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0013171 ngày 03/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Nguyễn Văn H không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con.

4.Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn chị Lê Thị D có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Riêng anh Nguyễn Văn H vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ