- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, 220, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Thông tư số 14/2021/TT-NHNN Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/KDTM-PT Ngày: 20/ 4 /2023 V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Tuyết Băng
Các Thẩm phán :
Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Bà Lê Thúy Linh
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Hồng Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Huỳnh Phương Linh– Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 20 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 144/2022/TLPT-KDTM ngày 19/10/2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án sơ thẩm số 67/2022/KDTM-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình thành phố Hà Nội bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2023/QĐXX-PT ngày 30/3/2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực. Địa chỉ: Tầng 14, 15 và 16 Tháp B, tòa nhà EVN, số 11 Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba Đình, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hoàng Hải - Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Tuấn Hưng - Giám đốc xử lý nợ
Ủy quyền lại cho: Bà Phạm Thị Thùy, ông Trần Tuấn Dũng
( Có mặt).
2. Bị đơn: Công ty TNHH Eo Biển Xanh. Địa chỉ: Khu phố Suối Nước, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền - Chủ tịch Hội đồng thành viên.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thế Thêm. Địa chỉ: Số 72 Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
( Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai đại diện theo ủy quyền của Công ty tài chính điện lực trình bày:
Ngày 07/4/2014 Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (sau đây gọi tắt EVNFinance) và Công ty TNHH Eo Biển Xanh (sau đây gọi tắt Công ty Eo Biển Xanh) đã ký Hợp đồng tín dụng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 07/4/2014. Theo đó EVNFinance cho Công ty Eo Biên Xanh vay số tiền 42.000.000.000 đồng; Thời hạn vay: tối đa 96 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu. Mục đích sử dụng vốn: Thanh toán các chi phí cải tạo Dự án Blue Bay Resort & Spa tại Khu phố Suối nước, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Lãi suất cho vay cụ thể theo từng Khế ước nhận nợ và theo thông báo của Bên cho vay. Lãi suất được điều chỉnh 03 tháng/lần và kỳ hạn điều chỉnh lãi lần đầu tiên vào ngày làm việc sau ngày tròn 03 tháng kể từ ngày giải ngân lần đầu, lãi suất cho vay = lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau bình quân tại Sở giao dịch của 04 Ngân hàng thương mại (Viettinbank, Vietcombank, BIDV, Agribank) trên địa bàn Hà Nội trước thời điểm 15:00 của ngày xác định lãi suất + biên độ lãi suất tối thiểu 2.5%/năm. Lãi suất quá hạn: tối đa bằng 150% lãi suất cho vay trên Hợp đồng tín dụng đối với số nợ gốc chậm trả.
Phương thức trả nợ: Trả nợ gốc: thời gian ân hạn gốc là 30 tháng kể từ ngày nhận nợ lần đầu tiên; kỳ trả nợ gốc sau ân hạn là 12 tháng/lần; Trả nợ lãi: thời gian ân hạn lãi là 42 tháng kể từ ngày nhận nợ lần đầu tiên; kỳ trả nợ lãi sau ân hạn là 12 tháng/lần, cùng kỳ trả nợ gốc.
Ngày 26/01/2015, EVNFinance và Công ty Eo Biển Xanh ký Phụ lục Hợp đồng số 06-01/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL sửa đổi các nội dung sau: Số tiền vay: 49.790.000.000 đồng. Thời hạn giải ngân của Hợp đồng: kéo dài đến hết ngày 26/4/2015.
Ngày 15/05/2015, EVNFinance và Công ty Eo Biển Xanh tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng số 06-02/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL sửa đổi: Ân hạn thời gian trả nợ gốc: 30 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên; + Kỳ trả gốc sau ân hạn: 12 tháng/lần, trả trong 7 kỳ từ ngày 18/10/2016 đến ngày 18/4/2022, cụ thể được ghi trong Phụ lục; Các nội dung khác của Hợp đồng tín dụng vẫn giữ nguyên.
Ngày 27/12/2017, EVNFinance và Công ty Eo Biển Xanh tiếp tục ký Phụ lục hợp đồng số 06-03/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL: Lãi suất trong hạn áp dụng từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 31/12/2018 là 7.15%/năm; Từ ngày 01/01/2019, lãi suất cho vay = trung bình cộng lãi suất tiền gửi tiết kiệm VNĐ kỳ hạn 12 tháng trả lãi sau tại 04 Ngân hàng thương mại (Viettinbank, Vietcombank, BIDV, Agribank) trên địa bàn Hà Nội trước thời điểm 15:00 của ngày xác định lãi suất + biên độ lãi suất tối thiểu 2.5%/năm; + Lãi suất điều chỉnh: 03 tháng/lần và kỳ hạn điều chỉnh lãi lần đầu tiên bắt đầu từ ngày 01/01/2019; Các nội dung khác của Hợp đồng tín dụng vẫn giữ nguyên.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là Công trình xây dựng khu du lịch Eo Biển Xanh tại thửa đất số 15; tờ bản đồ số 97; Địa chỉ: phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 369984, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CT13195 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30 tháng 8 năm 2017 mang tên Công ty TNHH Eo Biển Xanh theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số : 45/2017/HĐTC-TCĐL ngày 26/10/2017 được công chứng tại Văn phòng công chứng Phan Thiết, tại địa chỉ: Số 337 Trần Hưng Đạo, phường Bình Hưng, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ngày 26/10/2017, số công chứng: 5128, quyển số 09/2017 TP/CC – SCC/HĐGD. Đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 22/11/2017 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng, EVNFinance đã giải ngân cho Công ty Eo Biển Xanh vay tổng số tiền 49.789.944.147 đồng theo 46 Khế ước nhận nợ cụ thể:
STT
Số Khế ước
Ngày giải ngân
Số tiền giải ngân
1
06-01/2014/DN-KUTCĐL
17/4/2014
6,200,000,000
2
06-02/2014/DN-KU/TCĐL
29/4/2014
840,000,000
3
06-03/2014/DN-KU/TCĐL
7/5/2014
1,468,182,600
4
06-04/2014/DN- KU/TCĐL
8/5/2014
2,432,319,000
5
06-05/2014/DN-KU/TCĐL
13/5/2014
294,359,650
6
06-06/2014/DN-KU/TCĐL
15/5/2014
270,439,275
7
06-07/2014/DN-KU/TCĐL
6/6/2014
5,270,404,571
8
06-08/2014/DN-KU/TCĐL
16/6/2014
574,477,011
9
06-09/2014/DN-KU/TCĐL
2/7/2014
4,550,568,040
10
06-10/2014/DN-KU/TCĐL
18/7/2014
245,541,000
11
06-11/2014/DN-KU/TCĐL
24/7/2014
484,766,250
12
06-12/2014/DN-KU/TCĐL
31/7/2014
472,512,095
13
06-13/2014/DN-KU/TCĐL
5/8/2014
343,139,108
14
06-14/2014/DN-KU/TCĐL
12/8/2014
1,051,311,974
15
06-15/2014/DN-KU/TCĐL
13/8/2014
1,437,571,778
16
06-16/2014/DN-KU/TCĐL
25/8/2014
2,459,915,095
17
06-17/2014/DN-KU/TCĐL
28/8/2014
461,373,481
18
06-18/2014/DN-KU/TCĐL
29/8/2014
1,649,096,011
19
06-19/2014/DN-KU/TCĐL
18/9/2014
3,425,468,813
20
06-20/2014/DN-KU/TCĐL
19/9/2014
63,195,000
21
06-21/2014/DN-KU/TCĐL
25/9/2014
767,975,682
22
06-22/2014/DN-KU/TCĐL
1/10/2014
797,274,798
23
06-23/2014/DN-KU/TCĐL
10/10/2014
355,992,318
24
06-24/2014/DN-KU/TCĐL
16/10/2014
161,865,000
25
06-25/2014/DN-KU/TCĐL
21/10/2014
482,141,000
26
06-26/2014/DN-KU/TCĐL
10/11/2014
1,524,747,163
27
06-27/2014/DN-KU/TCĐL
13/11/2014
150,000,000
28
06-28/2014/DN-KU/TCĐL
24/11/2014
243,906,752
29
06-29/2014/DN-KU/TCĐL
9/12/2014
1,821,209,940
30
06-30/2014/DN-KU/TCĐL
12/12/2014
258,763,216
31
06-31/2014/DN-KU/TCĐL
15/12/2014
271,920,000
32
06-32/2014/DN-KU/TCĐL
27/12/2014
217,415,000
33
06-33/2014/DN-KU/TCĐL
30/12/2014
807,816,820
34
06-34/2014/DN-KU/TCĐL
26/1/2015
1,307,303,240
35
06-35/2014/DN-KU/TCĐL
5/2/2015
115,500,000
36
06-36/2014/DN-KU/TCĐL
9/2/2015
1,150,000,000
37
06-37/2014/DN-KU/TCĐL
11/2/2015
245,424,000
38
06-38/2014/DN-KU/TCĐL
12/2/2015
1,196,680,115
39
06-39/2014/DN-KU/TCĐL
13/2/2015
350,000,000
40
06-40/2014/DN-KU/TCĐL
14/2/2015
660,380,210
41
06-41/2014/DN-KU/TCĐL
17/3/2015
504,890,000
06-42/2014/DN-KU/TCĐL
26/3/2015
203,533,000
43
06-43/2014/DN-KU/TCĐL
6/4/2015
825,074,241
44
06-44/2014/DN-KU/TCĐL
7/4/2015
407,880,000
45
06-45/2014/DN-KU/TCĐL
21/4/2015
495,610,900
46
06-46/2014/DN-KU/TCĐL
25/5/2015
472,000,000
Tổng cộng
49,789,944,147
Căn cứ theo Phụ lục hợp đồng số 06-02/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 15/5/2015 kỳ trả nợ gốc đầu tiên của Công ty Eo Biển Xanh vào ngày 18/10/2016 với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày 22/12/2016 Công ty Eo Biển Xanh mới trả đủ đối vời kỳ trả nợ gốc này. Sau đó Công ty Eo Biển Xanh đã vi phạm các kỳ trả nợ ngày 18/10/2018, kỳ trả nợ ngày 18/10/2019. Tuy nhiên để tạo điều kiện cho Công ty Eo Biển Xanh trả nợ thì đến ngày 18/10/2019 mới tính lãi quá hạn cho Công ty eo Biển Xanh.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Eo Biển Xanh đã thanh toán được cho EVNFinance tổng số tiền là 37.406.384.897 đồng, trong đó: tiền gốc là 15.034.956.988 đồng, tiền lãi là 22.371.427.909 đồng.
Tạm tính đến hết ngày 24/6/2022, tổng số tiền Công ty Eo Biển Xanh phải thanh toán cho EVNFinance bao gồm: Dư nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Dư nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Dư nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng; Tổng cộng: 44.391.718.714 đồng.
EVNFinance khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty Eo Biển Xanh phải trả cho EVNFinance tổng số nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 24/6/2022, bao gồm: Nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng. Tổng cộng: 44.391.718.714 đồng.
- Công ty TNHH Eo Biển Xanh tiếp tục phải trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 25/6/2022 đến ngày trả dứt nợ theo lãi suất nợ quá hạn thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng, các Phụ lục Hợp đồng tín dụng và các Khế ước nhận nợ đã ký.
- Trường hợp Công ty TNHH Eo Biển Xanh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì EVNFinance có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi toàn bộ khoản nợ là: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là Công trình xây dựng khu du lịch Eo Biển Xanh tại thửa đất số 15; tờ bản đồ số 97; Địa chỉ: phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 369984, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CT13195 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30 tháng 8 năm 2017 mang tên Công ty TNHH Eo Biển Xanh.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn, ý kiến của nguyên đơn không đồng ý do: Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 và Công văn số 541/NHNN-TD ngày 04/02/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để giảm số tiền lãi trong hạn, quá hạn và chuyển nhóm nợ cho Doanh nghiệp đều quy định các tổ chức tín dụng xem xét và quyết định việc miễn giảm lãi, phí cho khách hàng theo quy định nội bộ. Đối với khoản nợ của bị đơn, EVNFinance thấy rằng chưa đủ điều kiện cơ câu miễn giảm lãi để xem xét tại thời điểm bị đơn đề nghị nên chưa có đồng ý và có văn bản trả lời cho bị đơn được biết.
Đề nghị bị đơn chịu chi phí xem xét, thẩm định đối với tài sản thế chấp mà EVNFinance đã thanh toán số tiền là: 76.352.000 đồng theo Hợp đồng dịch vụ số 07/2022/HĐDV ngày 24/03/2022 và Hóa đơn giá trị gia tăng số: 00000006 ngày 28/04/2022.
Về án phí kinh doanh thương mại: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
* Bị đơn Công ty TNHH Eo Biển Xanh do người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Việc ký kết hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ bị đơn nhất trí với trình bày của nguyên đơn.
Tạm tính đến hết ngày 24/6/2022 theo tính toán của EVNFinance thì tổng số tiền Công ty Eo Biển Xanh phải thanh toán cho EVNFinance bao gồm: Dư nợ gốc: Nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng. Tổng cộng: 44.391.718.714 đồng.
Tài sản thế chấp: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là Công trình xây dựng khu du lịch Eo Biển Xanh tại thửa đất số 15; tờ bản đồ số 97; Địa chỉ: phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 369984, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CT13195 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Hai ngày 30 tháng 8 năm 2017 mang tên Công ty TNHH Eo Biển Xanh.
*Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn có ý kiến: Do ảnh hưởng của đại dịch Covid 19 nên đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của công ty. Đây là điều kiện khách quan mà công ty không thể lường trước được. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 và Công văn số 541/NHNN-TD ngày 04/02/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bị đơn đề nghị nguyên đơn thực hiện đúng các quy định nêu trên để đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của công ty. Không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc Nguyên đơn thực hiện đúng thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 và Công văn số 541/NHNN-TD ngày 4/2/2020 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để giảm số tiền lãi trong hạn, quá hạn và chuyển nhóm nợ cho Doanh nghiệp để giảm số tiền lãi trong hạn và quá hạn tính đến ngày 24/6/2022 theo tính toán của EVNFinance thì tổng số tiền Công ty Eo Biển Xanh phải thanh toán cho EVNFinance bao gồm: Nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng. Tổng cộng: 44.391.718.714 đồng.
Trường hợp bị đơn phục hồi kinh doanh, bị đơn đưa ra phương án hòa giải như sau.
Chậm nhất ngày 01/7/2022: Công ty TNHH Eo Biển Xanh thanh toán cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền 7.531.200.000 đồng;
- Chậm nhất ngày 01/10/2022: Công ty TNHH Eo Biển Xanh thanh toán cho
Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền 7.531.200.000 đồng;
- Chậm nhất ngày 01/01/2023: Công ty TNHH Eo Biển Xanh thanh toán cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền 7.531.200.000 đồng;
- Chậm nhất ngày 01/3/2023: Công ty TNHH Eo Biển Xanh thanh toán cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền 7.531.200.000 đồng;
- Chậm nhất ngày 01/7/2023: Công ty TNHH Eo Biển Xanh thanh toán cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền 7.531.200.000 đồng;
- Chậm nhất ngày 01/9/2023: Công ty TNHH Eo Biển Xanh tất toán toàn bộ khoản vay cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực.
Tại bản án sơ thẩm số 67/2022/KDTM-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực.
Xác nhận Công ty TNHH Eo Biển Xanh còn nợ Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 07/4/2014; Phụ lục Hợp đồng số 06-01/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 26/01/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-02/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 15/5/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-03/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 27/12/2017 và 46 khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến hết ngày 24 tháng 6 năm 2022 là: Nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng. Tổng cộng: 44.391.718.714 đồng.
- Buộc Công ty TNHH Eo Biển Xanh phải trả cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực tổng số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 07/4/2014; Phụ lục Hợp đồng số 06-01/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 26/01/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-02/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 15/5/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-03/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 27/12/2017 và 46 khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến hết ngày 24/6/2022 là: Nợ gốc: 34.754.987.159 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng. Tổng cộng: 44.391.718.714 (bốn mươi bốn tỷ, ba trăm chín mươi mốt triệu, bảy trăm mười tám nghìn, bảy trăm mười bốn) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, Công ty TNHH Eo Biển Xanh còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc chậm trả cho đến ngày thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại theo Hợp đồng tín dụng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 07/4/2014; Phụ lục Hợp đồng số 06-01/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 26/01/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-02/2004/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 15/5/2015; Phụ lục hợp đồng số 06-03/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 27/12/2017 và 46 khế ước nhận nợ kèm theo hai bên đã ký.
Trường hợp Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của nguyên đơn cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho nguyên đơn cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của nguyên đơn cho vay.
2. Trường hợp Công ty TNHH Eo Biển Xanh không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, Công ty Tài Chính Cổ Phần Điện Lực có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản đảm bảo để thu hồi nợ là: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là Công trình xây dựng khu du lịch Eo Biển Xanh tại thửa đất số 15; tờ bản đồ số 97; Địa chỉ: phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 369984, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận: CT13195 do Sở Tài Nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30 tháng 8 năm 2017 mang tên Công ty TNHH Eo Biển Xanh theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số: 45/2017/HĐTC-TCĐL số công chứng: 5128, quyển số 09/2017 TP/CC SCC/HĐGD ngày 26/10/2017 được ký tại Văn phòng công chứng Phan Thiết.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong Hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực phải trả lại cho Công ty TNHH Eo Biển Xanh, nếu thiếu thì Công ty TNHH Eo Biển Xanh tiếp tục phải trả cho Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực số tiền còn thiếu.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm ngày 04/7/2022, Công ty Eo Biển Xanh có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu của bị đơn là được áp dụng chính sách pháp luật theo Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020, Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021, Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 của Ngân hàng nhà nước về việc hỗ trợ khách hàng do chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19. Công ty Eo Biển Xanh bị giảm sút doanh thu do ảnh hưởng bởi dịch Covid 19 từ 100% xuống còn 4,3% doanh thu. Do đó không chấp nhận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn là 9.636.731.555 đồng gồm lãi trong hạn 3.017.604.702 đồng và lãi quá hạn 6.619.126.853 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các đương sự thống nhất xác nhận ngoài các tài liệu chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác để nộp cho Tòa án và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội trình bày quan điểm và đề xuất hướng giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án từ thủ tục thụ lý vụ án, mở phiên tòa và tại phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án và phân tích nội dung vụ án. Vị đại diện Viện kiểm sát có quan điểm: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ có cơ sở xác nhận các hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, về hình thức và nội dung của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Bị đơn. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí : các đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
.Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty Eo Biển Xanh làm trong thời hạn luật định. Người kháng cáo đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, nên việc kháng cáo là hợp lệ. Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội giải quyết là đúng thẩm quyền.
. Về nội dung: Hội đồng xét xư xét thấy các hợp đồng tin dụng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 07/4/2014; phụ lục hợp đồng số 06-01/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 26/01/2015; phụ lục hợp đồng số 06-02/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 15/5/2015; phụ lục hợp đồng số 06-03/2014/PLHĐTD-TH-DN/TCĐL ngày 27/12/2017 và 46 khế ước nhận nợ kèm theo được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung đều phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực đối với các bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng Công ty Eo Biển Xanh đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trả nợ gốc lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng, nên bị thu hồi nợ trước hạn đối với toàn bộ khoản nợ còn lại.
Tính đến ngày 24/6/2022 Công ty Eo Biển Xanh còn nợ EVNFinance nợ gốc là 34.754.987.159 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty Eo Biển Xanh phải thanh toán trả cho EVNFinance nợ gốc là 34.754.987.159 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không có kháng cáo, Viện kiểm sát không có kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
* Về lãi suất; Xét yêu cầu kháng cáo và yêu cầu độc lập của Công ty Eo Biển xanh đề nghị Ngân hàng và Tòa án căn cứ vào các Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020, Thông tư 03/2021/TT-NHNN ngày 02/4/2021, Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 của Ngân hàng nhà nước về việc hỗ trợ khách hàng do chịu ảnh hưởng của dịch Covid 19 để giảm số tiền lãi trong hạn, quá hạn mà nguyên đơn đang yêu cầu bị đơn phải thanh toán. Hội đống xét xử xét thấy, qua kiểm tra bảng tính lãi suất của EVNFinance. Xét thấy mức lãi suất mà ngân hàng tính lãi trong hạn và lãi quá hạn có điểu chỉnh theo từng thời kỳ, hiện EVNFinance đang tính lãi trong hạn là 8,1%; lãi quá hạn là 12,5 % là hoàn toàn phù hợp với lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng tín dụng, các khế ước nhận nợ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Tại Điều 5 Thông tư 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định về miễn, giảm lãi, phí như sau: "Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài quyết định việc miễn, giảm lãi, phí theo quy định nội bộ đối với số dư nợ phát sinh từ hoạt động cấp tín dụng (trừ hoạt động mua, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) mà nghĩa vụ trả nợ gốc và/hoặc lãi đến hạn thanh toán trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid - 19 và khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận đã ký do doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid - 19". Như vậy việc xem xét miễn, giảm lãi do tổ chức tín dụng xem xét, quyết định theo quy định nội bộ được áp dụng đối với khách hàng không có khả năng trả nợ đúng hạn do doanh thu sụt giảm và có nghĩa vụ trả nợ phát sinh trong khoảng thời gian từ ngày 23/01/2020 đến ngày liền kề sau 03 tháng kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ công bố hết dịch Covid 19.
Tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ngày 27/02/2020 bị đơn có gửi công văn số 001/CVT/EBX/2020 đến Nguyên đơn để đề nghị triển khai gói tín dụng ngân hàng nhà nước hỗ trợ doanh nghiệp chịu ảnh hưởng từ dịch Covid-19. Ngày 05/3/2020 Nguyên đơn có công văn phúc đáp cho bị đơn với nội dung: đề nghị bị đơn bổ sung các chứng từ để chứng minh việc suy giảm hoạt động kinh doanh và thiệt hại về kinh tế do Covid 19 và ngày 16/3/2020 nguyên đơn ban hành công văn số 124/CV-TCDL-TD phúc đáp cho bị đơn chưa đủ điều kiện được cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn giảm lãi vay do kỳ hạn trả nợ gốc và lãi phát sinh gần nhất là ngày 18/10/2020.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm bị đơn có xuất trình bảng kê cân đối kế toán năm 2019, 2020,2021 của Công ty TNHH Eo Biển Xanh, tuy nhiên các bảng cân đối kế toán này đều không có chữ ký của người lập biểu, kế toán trưởng và giám đốc công ty cũng không ký đóng dấu. Do vậy không có căn cứ để xem xét.
Theo thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng số 06/2014/HĐTD-TH-DN/TCĐL quy định thời hạn cho vay là 96 tháng kể từ ngày giải ngân đầu tiên ( là ngày 07/4/2014). Ngày 15/5/2015, các bên đã ký Phụ lục hợp đồng số 06-02 ân hạn thời gian trả nợ gốc 30 tháng kể từ ngày nhận nợ đầu tiên và kỳ trả gốc sau ân hạn là 12 tháng/lần được tính từ ngày 18/10/2016 đến 18/4/2022. Nhưng Công ty Eo Biển Xanh đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn trả nợ là ngày 18/10/2016 mà tới ngày 22/12/2016 mới trả đủ số tiền gốc đến kỳ hạn này. Tiếp sau đó các kỳ hạn thanh toán ngày 18/10/2018, 18/10/2019 Công ty Eo Biển Xanh đều vi phạm. Công ty tài chính điện lực đã tự nguyện lấy ngày 18/10/2019 là mốc thời gian Công ty Eo Biển Xanh vi phạm nghĩa vụ trả nợ để tính lãi quá hạn là có lợi cho Công ty Eo biển xanh. Hơn nữa việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của Công ty Eo Biển Xanh xảy ra trước khi có dịch Covid19, nên không có căn cứ xem xét miễn, giảm lãi cho Công ty Eo Biển Xanh theo các quy định của Ngân hàng nhà nước Việt Nam về hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid19. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty Eo Biển Xanh phải trả nợ lãi cho Công ty tài chính điện lực tính đến ngày 24/6/2022 tổng số tiền là 9.636.731.555 đồng. Trong đó Nợ lãi trong hạn: 3.017.604.702 đồng; Nợ lãi quá hạn: 6.619.126.853 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay: Toàn bộ tài sản gắn liền với đất là công trình xây dựng khu du lịch Eo Biển Xanh tại thửa đất số 15; tờ bản đồ số 97; Địa chỉ phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 369984, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CT13195 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 30/8/2017 mang tên Công ty TNHH Eo Biển Xanh theo hợp đồng thế chấp bất động sản số 45/2017/HĐTC-TCĐL số công chứng 5128, quyển số 09/2017 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 26/10/2017 được ký tại văn phòng công chứng Phan Thiết. Xét hợp đồng thế chấp được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, về hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật. Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nên phát sinh hiệu lực đối với các bên. Sau khi xét xử sơ thẩm các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nên Hội đồng không xem xét.
Từ những phân tích trên không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Eo Biển Xanh.
Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nên được chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của Bị đơn không được chấp nhận, nên Bị đơn phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 30, 220, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 302,305,342,344,351,471,476,478,715,721 Bộ luật dân sự năm 2005.
Áp dụng Điều 91 và Điều 98 Luật tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/ NQ – QH ngày 30/12/2016, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí.
Xử:
1. Giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 67/2022/KDTM-ST ngày 24/6/2022 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình., thành phố Hà Nội
2.Về án phí phúc thẩm:
Công ty TNHH Eo Biển Xanh phải chịu 2.000.000 đồng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm được trừ vào 2.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí Công ty đã nộp theo biên lai số 0002098 ngày 13/7/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM -VKSND TP Hà Nội;
- TAND quận Ba Đình;
THẨM PHÁN
- Chi cục THA DS quận Ba Đình;
- Các Đương sự;
- Lưu Hồ sơ
Ngô Tuyết Băng CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh Lê Thùy Linh
Ngô Tuyết Băng CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh Lê Thùy Linh
Ngô Tuyết Băng CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh Hoàng Ngọc Thành
Ngô Tuyết Băng Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM -VKSND TP Hà Nội;
THẨM PHÁN -Cục THA DS quận Thanh Xuân;
- Cục THA DS TP Hà Nội;
- Các Đương sự; -Lưu Hồ sơ
Ngô Tuyết Băng CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hạnh Hoàng Ngọc Thành
Ngô Tuyết Băng
| Nơi nhận: - VKSND TP Hà Nội; - Chi cục THADS H. Đông Anh; - TAND H. Đông Anh - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Ngô Tuyết Băng |