- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HSST Ngày 14/6/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Sỹ Long
Bà Dương Thị Diễm
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 14/6/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2023/TLST- HS ngày 02 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2023/HSST-QĐ ngày 02/6/2023 đối với bị cáo: Lê Đình T, sinh năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Thanh Hóa. Chỗ ở: Thôn Đ, xã M, huyện C, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: không; Văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ tên bố: Lê Đình T, sinh năm 1960; Họ tên mẹ: Trần Thị N, sinh năm 1962; Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Họ và tên vợ: Trần Thị S, sinh năm 1989 (đã ly hôn); Họ và tên con: Lê Đình Bảo T, sinh năm 2011. Danh chỉ bản số 092 lập ngày 03/03/2023 tại Công an quận Ba Đình.
Tiền án, Tiền sự: Không,
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 22/02/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – CATP Hà Nội.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10h00’ ngày 22/02/2023 tổ công tác Công an phường Giảng Võ phát hiện tại khu vực ngã ba Ngọc Khánh – Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Lê Đình T điều khiển xe máy nhãn hiệu Jupiter màu đen, BKS: 36 M3 – 0050 có biểu hiện nghi vấn, qua kiểm tra phát hiện, thu giữ trong túi quần bên phải phía trước của T có 01 gói giấy màu vàng, kích thước 0,1x1,5 cm,01 gói giấy màu tím than kích thước 1x2 cm có chứa chất bột màu trắng. T khai là ma túy loại Heroin mua về sử dụng.
Ngoài số ma túy trên, cơ quan công an còn thu giữ của Lê Đình T: 01 xe máy Jupiter màu đen mang BKS: 36 M3- 0050, SM: 009269, SK: 009269 đã qua sử dụng; 5000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại Samsung Galaxy I6 màu đen, IMEI: 358465091949043 đã qua sử dụng.
Bản kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 01/3/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói giấy màu tím than và 01 gói giấy màu vàng đều là ma túy loại Heroin, tổng khối lượng: 0,292 gam.”
Tại cơ quan điều tra, Lê Đình T khai nhận: Khoảng 21h00’ ngày 21/02/2023 T điều khiển xe máy đến khu vực phường Tân Khai, Hoàng Mai, Hà Nội đến đoạn ngã ba (T không nhớ đường vì mới ra Hà Nội) hỏi mua của một người đàn ông làm xe ôm (không quen biết) một gói ma túy với giá 200.000 đồng, người đàn ông này nói với T sẽ lấy công đi mua với giá 100.000 đồng, T đồng ý và đã đưa số tiền 300.000đồng rồi ông ta đi đâu không rõ, một lúc sau người này đưa cho T 01 gói giấy màu vàng bên trong có chứa ma túy. T điều khiển xe máy về chỗ tại ngõ 48 đường Tân Khai, Hoàng Mai, Hà Nội, tại đây T đã chia một ít ma túy để sử dụng nhưng sau đó T thay đổi ý định nên chưa sử dụng, T gói số ma túy chia ra thành 02 gói, 01(một) gói giấy màu tím than và 01 (một) gói giấy màu vàng. T cất số ma túy vừa chia ra vào túi quần phía trước bên phải. Đến 09h00’ ngày 22/02/2023, T điều khiển xe máy nhãn hiệu Jupiter màu đen, BKS: 36 M3-0050 đến khu vực quận Tây Hồ để đi làm, khi đến đoạn ngã ba Ngọc Khánh – Kim Mã, T dừng lại mua xi lanh ở hiệu thuốc thì bị Cơ quan công an phường Giảng Võ kiểm tra và bắt quả tang cùng tang vật.
Lời khai nhận của Lê Đình T phù hợp với lời khai của nhân chứng, sơ đồ bắt giữ, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ.
Đối với đối tượng bán ma túy cho T, do không xác định lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối với chiếc xe máy Jupiter màu đen mang BKS: 36 M3 – 0050, SM: 009269, SK: 009269, số máy của xe là nguyên thủy. Xe mang tên chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân M (sinh năm: 1980, địa chỉ: thôn 4 Xuân Trường, Thọ Xuân, Thanh Hóa), anh M khai mua chiếc xe trên từ năm 2006, khoảng tháng 12/2022 anh M bán cho T với giá 5.000.000 đồng.
Tại cáo trạng số 61/CT-VKS ngày 25/5/2023, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình quyết định truy tố bị cáo Lê Đình T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy“ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện Kiểm Sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 ; khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 47 Bộ luật Hình sự; Đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 15 tháng đến 20 tháng tù; Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Căn cứ Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị Tịch thu tiêu hủy: ma tuý loại Heroine, khối lượng 0,292 gam;
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 5000đồng và 01 điện thoại Samsung Galaxy I6 màu đen, IMEI: 3584650919 đã qua sử dụng.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe máy Jupiter màu đen mang BKS: 36 – 0500, SM: 009269, SK: 009269 là công cụ phương tiện phạm tội.
Bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Lê Đình T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10h00’ ngày 22/02/2023, tại khu vực ngã ba Ngọc Khánh, phường Kim Mã, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Lê Đình T có hành vi tàng trữ trái phép 0,292 gam ma tuý loại heroine mục đích sử dụng thì bị tổ công tác Cơ quan công an phường Giảng Võ, quận Ba Đình phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Bị cáo Lê Đình T có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính của cơ quan quản lý nhà nước về chất gây nghiện; Hành vi của bị cáo Lê Đình T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
. Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, và đúng quy định của pháp luật.
. Ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, mặc dù biết rõ tác hại của ma túy nhưng chỉ vì nghiện hút đã vi phạm pháp luật do đó cần thiết xét xử bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay và tại cơ quan điều tra bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
. Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung:
Bị cáo là người không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên thấy cần miễn hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong bên trong có 0,292 gam ma túy loại Heroine qua giám định. Sau khi Phòng PC09 – CATP Hà Nội trích mẫu giám định, số còn lại được niêm phong. Bên ngoài có chữ ký của bị cáo Lê Đình T và Giám định viên.
Trả lại cho bị cáo thoại 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy J6 màu đen, IMEI: 3584650919.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 5000đồng (Năm nghìn đồng) và 01 xe máy Yamaha Jupiter màu đen mang BKS: 36 M3 – 0050, đã qua sử dụng, đã cũ nát.
. Về án phí:
Căn cứ Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án : Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2017;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ:
- điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 47;
Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm
2017;
- Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
thường vụ Quốc Hội ; Khoản 1, mục 1 danh mục mức án phí lệ phí Tòa án.
2. Xử phạt: Bị cáo Lê Đình T 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ
trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày 22/02/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bao niêm phong bên trong có chứa 0,292 gam
ma túy loại Heroine, đã qua giám định; sau khi Phòng PC09 – CATP Hà Nội trích
mẫu giám định, số còn lại được niêm phong. Bên ngoài có chữ ký của bị cáo Lê
Đình T và Giám định viên.
- Trả lại cho bị cáo thoại 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy I6
màu đen, IMEI: 3584650919.
- Tịch thu 01 (một) xe máy Yamaha Jupiter màu đen mang BKS: 36 M3 –
0050, giám định viên.
(Hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng chi cục thi hành án dân sự quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao vật chứng số 131 ngày 12 tháng 06
năm 2023)
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 5000đồng (Năm nghìn
đồng) theo Giấy nộp tiền vào tài khoản số 3949.106.1691 ngày 12 tháng 06 năm 2023 tại
Kho bạc nhà nước quận Ba Đình;
4. Về án phí :
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm;
5. Quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên
án.
| Nơi nhận - Bị cáo; - VKSND quận Ba Đình; - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND thành phố Hà Nội; - Công an quận Ba Đình; - Chi cục THADS quận Ba Đình - Lưu HS - VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hoài Phương |