- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Phan Anh Dũng phạm tội Tàng trứ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Phan Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/HS-ST Ngày: 23 - 5 - 2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU- TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Loan Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thao và bà Trần Thị Thúy Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Thủy Sơn Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Hóa - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2022/TLST-HS ngày 14/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 05/5/2023 đối với bị cáo:
Trần Phan Anh D, sinh năm 2000 tại Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Nơi đăng ký HKTT: Tổ 03, phường H, thành phố P, tỉnh G; Nơi cư trú: Tổ 01, phường H, thành phố P, tỉnh G; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T và bà Phan Thị Q; Bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không, tiền sự: Ngày 13/8/2022 bị Công an phường Hội Phú xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2022 đến ngày 05/01/2023, sau đó chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố Pleiku. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến: Ông Phan Minh T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Tổ 02, Phường T, thành phố P, tỉnh G. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Phan Anh D sử dụng ma túy (loại Methamphetamine) từ khoảng đầu năm 2020. Qua quen biết ngoài xã hội, Dũng biết người nam thanh niên tên Tý Âu (chưa rõ nhân thân, lai lịch) là người có bán ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 27/12/2022, do cần có ma túy để sử dụng nên Dũng gọi điện thoại cho Tý Âu, hỏi mua ma túy đá với giá 500.000 đồng, Tý Âu đồng ý và hẹn Dũng đến khu vực trước cửa sau chùa Minh Thành đường Bờ Kè, phường Hội Phú, thành phố Pleiku để mua, bán ma túy. Sau đó, Dũng đón xe ôm của người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) đi đến địa chỉ trên thì gặp Tý Âu. Tại đây, Tý Âu bán cho Dũng 01 gói nilon và 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng (hai đầu được hàn kín), bên trong đều chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, Dũng cầm trong tay trái rồi đi bộ đến đường Ngô Thì Nhậm, phường Phù Đổng, thành phố Pleiku để tìm nơi sử dụng ma tuý. Vào lúc 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi Dũng đi đến trước số nhà 23/26/3 đường Ngô Thì Nhậm, thuộc Tổ 06, phường Phù Đổng, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Pleiku, phát hiện bắt quả tang; thu giữ trong tay của Dũng, gồm: 01 gói nilon và 01 đoạn ống hút nhựa bên trong đều chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng (được niêm phong theo quy định). Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của Dũng 01 điện thoại di động hiệu Iphone, kèm thẻ sim, mặt sau có dãy số 89840.20001.11309.5254.
Qua trưng cầu giám định, tại bản Kết luận giám định số 54/KLGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Gia Lai, kết luận: “Toàn bộ chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 đoạn ống hút nhựa màu vàng hàn kính và 01 gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; tổng khối lượng 0,188 gam”.
Tại bản Cáo trạng số: 83/CT-VKS ngày 13/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố bị cáo Trần Phan Anh D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Phan Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 38, 50 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Phan Anh D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy bì công văn ghi số 54/PC09 ngày 05/01/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và 01 sim số,Tịch thu vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Pleiku, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án do đó đã có đủ cơ sở xác định: Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 27/12/2022, vừa đi đến trước số nhà 23/26/3 đường Ngô Thì Nhậm, thuộc Tổ 06, phường Phù Đổng, bị cáo Trần Phan Anh D đang tàng trữ 0, 188 gam ma túy loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi đó của bị cáo Trần Phan Anh D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi sử dụng ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; ông bà nội của bị cáo là người có công với cách mạng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe.
Xét bị cáo phạm tội không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 (một) bì công văn ghi số 54/PC09 ngày 05/01/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy và tịch thu tiêu hủy 01 sim số có dãy số 8984020001113095254.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng, bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
Đối với đối tượng tên Tý Âu là người mà Trần Phan Anh D khai đã bán ma túy cho Dũng vào ngày 27/12/2022, quá trình điều tra do Dũng không biết rõ nhân thân, lai lịch, không xác định được số điện thoại của Âu nên chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Trần Phan Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Phan Anh D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (27/12/2022).
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật Hình sự;
Tịch thu tiêu hủy bì công văn ghi số 54/PC09 ngày 05/01/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai và 01 sim số có dãy số 8984020001113095254.
Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng;
(Các vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku, đặc điểm, số lượng, chủng loại theo như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2023 giữa Công an thành phố Pleiku và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, áp dụng khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Buộc bị cáo Trần Phan Anh D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (23/5/2023), bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố Pleiku; - Công an thành phố Pleiku; - Chi cục THADS thành phố Pleiku; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Loan Phƣơng |