vanban.org

Bản án 73/2023/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 07/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về biện pháp ngăn chặn:

Thời hạn Bảo lĩnh đối với bị cáo TVP không quá thời hạn kể từ khi tuyên án (ngày 07 tháng 8 năm 2023) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TVP - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về biện pháp ngăn chặn:
  • Căn cứ chính? Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST
Ngày 07-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải

Ông Bùi Văn Khương

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

TVP, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1973 tại Hải Phòng; nơi cư trú: đội A, thôn B, xã C, huyện D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông E (đã chết) và bà F; có vợ là G, có 02 con, con lớn sinh năm 1996 (đã chết), con nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự, nhân thân: Tại Bản số 02/2005/HSST ngày 18/01/2005 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ từ ngày 19/6/2023 đến ngày 21/6/2023 chuyển tạm giam; ngày 19/7/2023 thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 00 ngày 19/6/2023 TVP điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 406.66 từ nhà tới khu vực đường tàu H, quận I, thành phố Hải Phòng để mua ma túy về sử dụng. Tại đây, TVP gặp và hỏi mua của một người phụ nữ không quen biết 200.000 đồng được 01 túi nilon mép dán màu xanh bên trong chứa ma túy. Biết túi nilon trên là ma túy nên TVP nhận và cho vào túi quần phía trước bên trái cất giấu sau đó TVP điều khiển xe về nhà để sử dụng. Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, khi TVP đi tới khu vực trước cửa số nhà J đường K, phường L, quận M, thành phố Hải Phòng thì gặp lực lượng Công an kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của TVP đang mặc 01 túi nilon mép dán màu xanh bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (mẫu QT), 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 - 406.66.

Tại bản Kết luận Giám định số 539/KL-KTHS(MT) ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Chất bột màu trắng của mẫu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,29gam, loại Heroine”.

Tại Cơ quan điều tra TVP khai nhận như nội dung nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án: 01 phong bì thư niêm phong số ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 539MT/PC09 chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 – 406.66 thu giữ của TVP, TVP khai mua chiếc xe trên tại 01 cửa hàng trên đường N, không nhớ cụ thể địa chỉ. Kết quả tra cứu nguồn gốc TVP tiện xác định thông tin về chủ sở hữu phương tiện là ông O, sinh năm 1964; nơi cư trú: P, phường Q, quận R, thành phố Hải Phòng. Tiến hành ghi lời khai ông O khai nhận bản thân chưa từng mua, chưa từng đứng tên trên đăng ký xe mô tô có biển kiểm soát 15B3 – 406.66. Tiến hành giám định cho thấy số khung số máy của xe là nguyên thủy, không bị tẩy xóa hoặc sửa chữa các ký tự. Kết quả tra cứu vật chứng cho thấy xe mô tô có biển kiểm soát 15B3 – 406.66 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Tại Bản Cáo trạng số 76/CT-VKSHB ngày 19/7/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo TVP về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo TVP với mức án từ 18 đến 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư dán kín trong có toàn bộ số mẫu giám định còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 539/MT/PC09.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 – 406.66 thu giữ của TVP. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo cung cấp đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh của vụ án:

Tại phiên tòa, bị cáo TVP đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, bản Kết luận giám định ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 8 giờ 00 phút ngày 19/6/2023 tại khu vực trước cửa số nhà J đường K, phường L, quận M, thành phố Hải Phòng, TVP có hành vi cất giấu trái phép 0,29 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị bắt quả tang. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 19/6/2023), bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.

- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.

- Xét về nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có 01 tiền án: Tại Bản án số 02/2005/HSST ngày 18/01/2005 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích), nên cần đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy tại Thông báo số 751/PC11 ngày 13/7/2023 của Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng thông báo về việc người bị tạm giam ốm đối với bị cáo TVP hiện nhiễm HIV, thể trạng gầy yếu, gẫy xương cẳng chân bên phải, hạn chế vận động chân bên trái do can lệch sau khi gẫy xương đùi, người mệt mỏi ăn uống kém, nên cần xử bị cáo mức án phù hợp, áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt bị cáo phải chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 539/MT/PC09.

- Về biện pháp ngăn chặn:

Thời hạn Bảo lĩnh đối với bị cáo TVP không quá thời hạn kể từ khi tuyên án (ngày 07 tháng 8 năm 2023) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 124 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo TVP kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 8 năm 2023) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

- Về án phí:

Bị cáo TVP phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này:

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho TVP, quá trình điều tra chưa xác minh được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15B3 – 406.66 thu giữ của TVP. Do chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng tách ra, tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: TVP 18 (mười tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án, trừ cho bị cáo 30 ngày tạm giữ (từ ngày 19/6/2023 đến ngày 19/7/2023).

Về biện pháp ngăn chặn:

Thời hạn Bảo lĩnh đối với bị cáo TVP không quá thời hạn kể từ khi tuyên án (ngày 07 tháng 8 năm 2023) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 3 Điều 124 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị cáo TVP kể từ ngày tuyên án (ngày 07 tháng 8 năm 2023) cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong số ma túy và toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định có dấu niêm phong số 539/MT/PC09 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/7/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo TVP phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo TVP được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ