- Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tòn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 73/2023/ HS-ST Ngày 19 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÙNG KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phương Ngọc Báu và bà Nguyễn Thị Minh Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Thị Thu Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh - tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tham gia phiên tòa: Bà Ma Kim Hiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 73/2023/TLST - HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2023/QĐXXST - HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Đặng Tòn D, giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 11/9/1996, tại xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm L, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Đặng Phụ S, sinh năm 1971 và bà Đặng Mùi V, sinh năm 1975; Vợ: Xiêm Mùi C, sinh năm 1997 và 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không có;
Đặc điểm nhân thân: Năm 2013, bị đưa vào Trường giáo dưỡng số 02, tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo quyết định số 756 ngày 09/9/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Cao Bằng.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. (Có mặt)
* Người làm chứng: Bế Thị Bích P, sinh năm 1996; trú tại: xóm H, thị trấn T, huyện K, tỉnh Cao Bằng; (vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 00 ngày 25/5/2023, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh chủ trì phối hợp với tổ công tác Công an thị trấn Trà Lĩnh, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực xóm H1, thị trấn T, huyện K, tỉnh Cao Bằng phát hiện một nam thanh niên đang ở trong phòng trọ của bà Bế Thị Bích P, sinh năm 1996, trú tại xóm H1, thị trấn T, huyện K, tỉnh Cao Bằng có biểu hiện nghi vấn. Tổ công tác tiến hành kiểm tra, xác định nam thanh niên là Đặng Tòn D, sinh năm 1996, trú tại xóm P, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng. Kiểm tra phát hiện trong túi quần phía trước bên phải D đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng, D khai nhận là ma túy, loại Heroine; phát hiện tại túi quần đằng sau bên phải số tiền 50.000 đồng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng đúng theo quy định của pháp luật.
Ngày 25/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh và Đồn Biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh tiến hành mở niêm phong cân xác định khối lượng vật chứng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại. Kết quả cân số chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Tòn D có khối lượng 0,14 gam. Tại kết luận giám định số 246/KL - KTHS ngày 29/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Cao Bằng kết luận: mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Tại cơ quan điều tra, Đặng Tòn D khai nhận: khoảng 07 giờ 00 ngày 25/5/2023, D một mình đi nhờ xe mô tô từ xóm H1, thị trấn T, huyện K xuống khu vực xóm V đến cầu R thuộc xóm V, thị trấn T mua ma túy với một người đàn ông không quen biết với số tiền 500.000 đồng, ma túy được gói bằng giấy bạc màu trắng. Sau khi mua được ma túy, D xuống bờ sông lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại D cất giấu trong túi quần, rồi quay về phòng trọ tại xóm H1, thị trấn T thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ số ma túy vừa mua được.
Vật chứng vụ án, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã ban hành quyết định chuyển vật chứng của vụ án từ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trùng Khánh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản cáo trạng số 77/CT-VKSTK ngày 06 tháng 9 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo Đặng Tòn D ra trước Tòa án nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Đặng Tòn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và trình bày quan điểm về nguyên nhân phạm tội và hướng giải quyết vụ án như sau: Mặc dù nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị xã hội lên án, nhưng do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Tòn D từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 25/5/2023 của bị cáo Đặng Tòn D còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định và vật chứng là 01 mảnh giấy bạc do không còn giá trị sử dụng. Trả cho bị cáo Đặng Tòn D số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo nhất trí với kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh về tội danh, hành vi phạm tội, mức hình phạt và quan điểm xử lý vật chứng nên không có ý kiến tranh luận.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Đặng Tòn D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trùng Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo Đặng Tòn D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Cụ thể như: Lời khai của bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét chỗ ở và vật chứng thu giữ.
Qua nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Hội đồng xét xử nhận định, có đủ căn cứ chứng minh: Hồi 08 giờ 00 ngày 25/5/2023, Đặng Tòn D, sinh năm 1996, trú tại xóm L, xã H, huyện B, tỉnh Cao Bằng đi nhờ xe mô tô từ xóm H1, thị trấn T, huyện K đến xóm V, thị trấn T, huyện K, tỉnh Cao Bằng mua ma túy với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy D quay lại phòng trọ tại xóm H1 thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang, thu giữ 0,14 gam ma túy, loại Heroine. Mục đích bị cáo Đặng Tòn D tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cho bản thân.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đặng Tòn D đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà Nước về ma túy. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ tác hại của ma túy nhưng do xem thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội để có ma túy sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép 0,14 gam Heroine của bị cáo Đặng Tòn D đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết tội bị cáo Đặng Tòn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’’ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Đặng Tòn D không có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, năm 2013 bị đưa vào Trường giáo dưỡng số 02, tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình theo quyết định số 756 ngày 09/9/2013 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện b, tỉnh Cao Bằng và bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên không được coi là có nhân thân tốt. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi mua bán ma túy của mình và tỏ ra ăn năn hối cải. Do đó, khi quyết định hình phạt cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không có.
Các nhận định khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo Đặng Tòn D khai mua với một người đàn ông không biết tên và địa chỉ. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, danh tính của người bán ma tuý cho D nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Trùng Khánh không có căn cứ mở rộng vụ án.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nguồn thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ ngày 25/5/2023 của bị cáo Đặng Tòn D còn lại sau khi đã trích mẫu đi giám định và vật chứng là 01 mảnh giấy bạc do không còn giá trị sử dụng;
- Trả cho bị cáo Đặng Tòn D số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng) là tiền lao động của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trùng Khánh tại phiên tòa là đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo Đặng Tòn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Tòn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Đặng Tòn D 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 25/5/2023;
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) phong bì niêm phong lại, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng vụ Đặng Tòn D – Tàng trữ trái phép chất ma túy, xảy ra tại xóm H1 - Thị trấn T – huyện K - Cao Bằng, ngày 25/5/2023”, mặt sau phong bì niêm phong trên có chữ ký của các thành phần tham gia và đóng 04 (bốn) hình dấu mực màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng.
- Trả cho bị cáo Đặng Tòn D số tiền 50.000 đồng (Năm mươi nghìn đồng), nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Xác nhận số vật chứng trên đã chuyển sang cơ quan Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trùng Khánh tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 31/8/2023.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Tòn D phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo Đặng Tòn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - Sở tư pháp; - Phòng hồ sơ – CA tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Công an huyện; - Đồn biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh; - Cơ quan THA hình sự; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu: Án văn, THA hình sự và HS. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hoàng Thúy Quỳnh |