vanban.org

Bản án 73/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phúc Thọ, TP. Hà Nội Tuyên án 05/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chu Văn T (tức Chu Văn M) 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2023. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚC THỌ, TP HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 73/2023/HS-ST
Ngày: 05 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Học

Ông Lê Xuân Sơn

- Thư ký phiên tòa: Ông Khuất Tiến Phúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 62/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

CHU VĂN T (tức Chu Văn M) sinh ngày 01 tháng 01 năm 1967 tại xã P, huyện T, TP Hà Nội; HKTT: Thôn V 3, xã P, huyện T, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: Lớp 07/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Văn M1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị Đ (đã chết); Vợ: Đặng Thị Ph, sinh năm 1970; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1994. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

- Ngày 06/01/2006, tại Bản án số 02/2006/HSST, Chu Văn T bị TAND huyện T xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (đã xóa án tích);

- Ngày 10/9/2015, tại Bản án số 48/2015/HSST, T bị TAND huyện T xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đã xóa án tích)

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/5/2023 đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện Phúc Thọ. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người làm chứng:

Ông Tô Văn Tr, sinh năm 1957 (Vắng mặt)

TQ: Tổ dân phố số 02, thị trấn P, huyện P, TP Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 12/5/2023, Chu Văn T đi xe Bus từ nhà ở xã P, huyện T, Thành phố Hà Nội đến Trung tâm y tế thị xã S- Hà Nội để uống thuốc Methadone theo định kỳ. Sau đó, do thèm sử dụng ma túy, T đi bộ ra ngoài cổng Trung tâm y tế một đoạn thì gặp một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch có biểu hiện là người nghiện ma túy. Qua nói chuyện, người đàn ông này biết T đang tìm mua ma túy nên đã bán cho T 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng kích thước khoảng 01x01cm với giá 100.000đ (một trăm nghìn đồng). T cất gói Heroine vào trong túi quần đang mặc và bắt xe Bus đi về. Khi đi đến điểm dừng xe Bus gần cổng nghĩa trang liệt sỹ huyện P (Thuộc Tổ dân phố số 2, thị trấn P, huyện P, Thành phố Hà Nội), T xuống xe để chờ bắt xe Bus khác về nhà. Khoảng 07 giờ 45 phút cùng ngày, tổ công tác Công an thị trấn P làm nhiệm vụ đi qua, thấy T có dấu hiệu nghi vấn nên đã đến hỏi T tên tuổi, địa chỉ ở đâu? đang ngồi đây một mình làm gì? T biết trong người đang có ma tuý là vi phạm pháp luật, biết không thể trốn tránh được nên đã thành khẩn trình bày tên tuổi và tự giác lấy trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 01 (một) gói nilon nhỏ và khai nhận là ma túy T vừa mua, mục đích cất giấu để sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; niêm phong gói ma tuý T giao nộp vào phong bì thư dán kín sau đó đưa T về trụ sở Công an thị trấn P để làm việc rồi chuyển hồ sơ, tang vật, đối tượng đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phúc Thọ để giải quyết theo thẩm quyền.

Tang vật, đồ vật thu giữ gồm:

- 01 (một) gói nilong màu trắng có kích thước khoảng 01x01cm, bên trong có gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng (T khai nhận là ma túy Heroine).

- 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng SAMSUNG màu hồng đã cũ.

Ngày 13/5/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Phúc Thọ thi hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Chu Văn T ở thôn V, xã P, huyện T, TP Hà Nội. Kết quả không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan đến vụ án.

Ngày 19/5/2023, Phòng PC09- CATP Hà Nội có bản Kết luận giám định số 3084/KL-KTHS, kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 (một) gói giấy bạc màu vàng (bên ngoài bọc nilon màu trắng) là ma tuý loại Heroine, có khối lượng 0,115 gam.

Tại bản Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 07 tháng 8 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội đã truy tố Chu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Chu Văn T từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023.

Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín của phòng PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của GĐV Nguyễn Thị Thành, đồng chí Nguyễn Tuấn Vũ, cán bộ Công an thị trấn Phúc Thọ và của Chu Văn T.

Đề nghị trả lại bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu hồng đã cũ;

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, có ăn năn hối cải về hành vi của mình nên xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận:

Sáng ngày 12/5/2023, tại khu vực ven đường Quốc lộ 32, đoạn thuộc Tổ dân phố số 2, thị trấn P, huyện P, Thành phố Hà Nội, Chu Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép 0,115 gam ma túy loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thị trấn Phúc Thọ đang làm nhiệm vụ tuần tra tại đây phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.

Hành vi nêu trên của Chu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Do vậy, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

. Xét tính chất mức độ của vụ án: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, làm mất trật tự trị an ở địa phương, bản thân bị cáo đã hai lần bị kết án đều là tội phạm về ma túy, bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ chất ma túy là hành vi bị nghiêm cấm nhưng không chịu rèn luyện tu dưỡng mà vẫn cố tình phạm tội nên cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc để răn đe bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T: T khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết tại khu vực cổng trung tâm y tế thị xã S, khoảng 40 tuổi, cao 1m60, dáng người đậm, mặc áo cộc tay màu đen, quần soóc, đi dép lê, đầu không đội mũ, mặt đeo khẩu trang kín. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự;

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người lao động tự do, hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định, không có điều kiện về kinh tế để thi hành án nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chứa vật chứng của phòng PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của GĐV Nguyễn Thị Thành, đồng chí Nguyễn Tuấn Vũ, cán bộ Công an thị trấn Phúc Thọ và của Chu Văn T không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu hồng đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chu Văn T (tức Chu Văn M) 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 (một) phong bì niêm phong dán kín có chứa vật chứng của phòng PC09-CATP Hà Nội, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Thành, đồng chí Nguyễn Tuấn Vũ, cán bộ Công an thị trấn Phúc Thọ và của Chu Văn T

- Trả lại bị cáo Chu Văn T 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu hồng đã cũ;

Vật chứng được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2023.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Chu Văn T phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ